BỘ NÔng nghiệP & phát triển nông thôn cục trồng trọt giới Thiệu



tải về 0.59 Mb.
trang2/6
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.59 Mb.
1   2   3   4   5   6

Bảng 3: 20 giống lúa gieo trồng chủ lực ở phía Nam năm 2005

Stt

Tên giống

Ước DT 2005 (ha)

Số tỉnh gieo trồng

Phản ứng rầy nâu

Phản ứng đạo ôn

1

OM 1490

400.000

19

N

N

2

OM 576

360.000

12

HN

HN

3

IR 50404

350.000

14

HN

HN

4

OMCS 2000

280.000

19

HN

N

5

VND 95-20

300.000

20

HN

HN

6

OM 2517

180.000

10

HN

HN

7

Jasmine 85

160.000

11

N

N

8

IR 64

150.000

19

HN

HN

9

OM 3536

140.000

17

N

HN

10

OM 2718

130.000

13

N

N

11

VD 20

80.000

9

N

HN

12

OM 2717

70.000

15

N

N

13

TNĐB 100

55.000

10

HN

HN

14

OM 2514

40.000

7

N

HN

15

AS 996

30.000

11

HN

HN

16

MTL 250

25.000

15

N

HN

17

OM 2822

15.000

5

HK

HN

18

OM 3242-49

15.000

5

N

HN

19

IR 56381

10.000

2

HN

N

20

ST 3

10.000

5

N

N

Ghi chú: N: Nhiễm; HN: Hơi nhiễm

Nhìn chung, có thể thấy xu hướng chuyển đổi rõ nét về cơ cấu giống lúa ở ĐBSCL những năm gần đây là việc tăng nhanh sử dụng các giống lúa cực ngắn ngày (TGST từ 88 – 95 ngày trong điều kiện sạ) thích nghi cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu, năng suất cao, chất lượng gạo tốt hoặc chấp nhận được. Việc canh tác các giống lúa cực ngắn ngày góp phần tiết kiệm chi phí, nước tưới, phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tăng vụ. Nhóm giống này hiện chiếm khoảng 70% diện tích gieo trồng lúa toàn vùng.

Trong số các giống lúa hiện đang sử dụng ở ĐBSCL, nhóm giống cải tiến, năng suất cao đóng vai trò then chốt, chiếm khoảng 85% diện tích sản xuất các vụ, trong đó tỉ lệ giống cao sản chất lượng cao (hạt thon dài, ít bạc bụng, hàm lượng Amylose trung bình) ngày càng tăng và chiếm tới 55 – 60% diện tích lúa, đã góp phần quan trọng trong việc tăng chất lượng và giá trị gạo xuất khẩu của Việt Nam những năm qua.

Số lượng giống lúa có mặt trong sản xuất ở ĐBSCL rất đa dạng và phong phú, trên 200 giống trong vụ Hè Thu và Mùa, và khoảng 180 giống trong vụ Đông Xuân. Tuy nhiên, có thể xác định 10 giống lúa chủ lực chiếm tới 65 – 70% tổng diện tích gieo trồng và có vị trí quyết định đến sản xuất lúa giai đoạn 2000-2005 là: VNĐ 95 – 20; OM 1490; OM 576; OMCS 2000; IR 64; OM 2717; OM 2718; Jasmine 85; OM 3536 (OMCS 21) và OM 2517.

Thay đổi tích cực về cơ cấu giống lúa trong hơn một thập kỷ qua thể hiện ở tỉ lệ giống lúa được chọn tạo, phát triển trong nước ngày càng tăng và chiếm vị trí chủ đạo (trên 70%) trong sản xuất lúa hiện nay; trái ngược hẳn tình hình những năm 80 và đầu những năm 90 khi mà giống lúa có nguồn gốc từ Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) chiếm đa số.

Ảnh hưởng của thị trường đến chuyển đổi cơ cấu giống lúa ở ĐBSCL thể hiện rõ trong những năm gần đây, đó là sự tăng đột biến diện tích sản xuất các giống lúa thơm, đặc sản như VD 20, Jasmine 85, ST3, các giống lúa nếp và mùa đặc sản địa phương như Tài nguyên, Nàng thơm, Nàng hương, Tép hành… Những giống lúa này ngon cơm, có giá trị thương mại cao nhưng có nhược điểm chung là nhiễm nặng nhiều loại sâu bệnh hại chính ở ĐBSCL như rầy nâu, bệnh đạo ôn, khô vằn.

Trước năm 2000, cơ cấu giống lúa Jasmine 85 và VD 20 hầu như không đáng kể. Nhưng do nhu cầu xuất khẩu, năng suất và giá trị thương mại cao nên diện tích sản xuất giống Jasmine 85 và VD 20 bùng phát nhanh, lên tới trên 200.000 ha năm 2004 và khoảng 250.000 ha vào năm 2005. Nhóm lúa thơm đặc sản hiện chiếm trên 10% tổng diện tích gieo trồng lúa toàn vùng.

Các giống lúa đặc sản được sản xuất khá tập trung ở một số địa phương, vì thế ở nhiều vùng tỉ lệ diện tích lúa thơm nhiễm rầy nâu và bệnh đạo ôn lên đến 20 – 30%. Đây có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tích tụ và bùng phát dịch rầy nâu hiện nay.

Sau nhiều năm sản xuất trên diện rộng, tính kháng của phần lớn các giống lúa với sâu bệnh đã suy giảm, nhất là ở những vùng có sức ép sâu bệnh hại cao như vùng canh tác 3 vụ, vùng có thâm canh cao.

Dịch rầy nâu, kèm theo lây truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá đã xảy ra trên diện tích rộng ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL trong năm 2006, có nguy cơ bùng phát ngày càng rộng trong vụ Đông Xuân 2006 – 2007 và những vụ tới nếu không có những biện pháp phòng trừ hiệu quả.

Từ cơ cấu giống lúa và thực tế sản xuất những năm gần đây đặt ra những vấn đề cần quan tâm như sau:

Một là, cần tổ chức đánh giá định kỳ phản ứng với rầy nâu, đạo ôn và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá của nhóm giống chủ lực và nhóm giống lúa bổ sung để có chiến lược sử dụng và điều chỉnh cơ cấu giống lúa phù hợp cho từng vùng, từng vụ sản xuất, xác định các nguy cơ tiềm ẩn để đề ra biện pháp quản lý dịch hại chủ động và hiệu quả.

Hai là, tổ chức khảo nghiệm, xác định nhanh các giống lúa mới có đặc tính nông học phù hợp, năng suất và chất lượng cao hoặc chấp nhận được, kháng rầy nâu và bệnh đạo ôn, nhiễm nhẹ bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá để bổ sung vào cơ cấu giống chủ lực là rất cấp thiết.

Ba là, tăng cường hơn nữa công tác chọn tạo phát triển các giống lúa kháng sâu bệnh.

Bốn là, tổ chức hệ thống sản xuất giống lúa các cấp, phục tráng và làm thuần các giống lúa chủ lực đã tồn tại lâu dài trong sản xuất, kết hợp với biện pháp canh tác tổng hợp để phát huy tốt tiềm năng và kéo dài thời gian tồn tại của giống trong sản xuất.

III. Định hướng cơ cấu giống lúa hiện nay và trong thời gian tới

1. Sơ bộ tình hình sâu bệnh đang phát sinh hiện nay

Rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá gần đây đã có những diễn biến phức tạp. Thời gian bùng phát và gây hại mạnh bắt đầu từ năm 2005, và kéo dài với tốc độ lây truyền bệnh nhanh, trên phạm vi rộng.

Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá tại một số vùng chiếm tới 70 – 80% diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu, là một tỉ lệ cao và đáng lo ngại.

Tốc độ lây lan nhanh và rộng do những yếu tố về mùa vụ canh tác lúa của những vùng là chính (luôn luôn có sự hiện diện của cây lúa trên đồng ruộng, rầy nâu dễ dàng di trú theo gió về Đông Nam bộ khi ĐBSCL thu hoạch lúa và ngược lại). Ngoài ra việc sử dụng tỉ lệ cao một số giống nhiễm rầy nâu trong sản xuất đã làm cho dịch hại này có điều kiện bộc phát nhanh và kéo theo sự lây truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên diện rộng.

Tuy nhiên bằng nhiều biện pháp canh tác như cắt bỏ vụ 3, áp dụng 3 giảm 3 tăng, sử dụng một số giống lúa chống chịu rầy nâu, IPM, 4 đúng trong dùng thuốc BVTV, thời vụ sạ lúa tập trung, “né rầy”, “bao lúa” bằng việc khống chế nước, “giăng mùng” cho mạ,… đã góp phần quan trọng vào việc khống chế dịch rầy nâu, vàng lùn và lùn xoắn lá.


  1. Giới thiệu cơ cấu giống vụ Đông Xuân 2006 - 2007

Nhiều giống lúa có thể dùng cho vụ ÐX 2006 – 2007, ít nhất là để chờ có giống tốt hơn là: OMCS 2000, OM 576, IR 50404, IR 64; và AS 996, VND 95 – 20, OM 5930.

Một số giống được các tác giả giới thiệu có tính kháng rầy tốt, như OM 4495, OM 4498, MTL 382, MTL 465. Ðiều này thể hiện tiềm năng tạo, chọn giống, nhưng trước hết là số lượng hạt giống chưa đáp ứng và cũng cần sàng lọc qua thử thách trong sản xuất.

Nhóm giống phản ứng phức tạp (khi kháng, khi nhiễm, vùng kháng, vùng nhiễm): OM 2718; OM 2517; IR 64; VNĐ 95 – 20; OMCS 2000; OM 3536; VD 20… cần được tiếp tục khảo sát nghiêm túc.

Trên cơ sở khảo sát thực tế, đề xuất của các địa phương và ý kiến các cơ quan nghiên cứu khoa học chuyên ngành, cơ cấu giống cụ thể cho vụ Đông Xuân 2006 – 2007 được khuyến cáo như sau:

- Nhóm giống chủ lực khuyến cáo sử dụng: OM 4498; OM 4495; AS 996; OM 2395; VNĐ 95 – 20; OMCS 2000; OM 2517; OM 576; IR 64.

- Nhóm giống lúa có thể xem xét mở rộng sản xuất thử: MTL 474; MTL 385; OM 5930; OM 4900; OM 5932, OM 5796; OM 5637; IR 59656-5K-2.

- Nhóm giống khuyến cáo hạn chế sử dụng: OM 1490; OM 2717; VD 20; Jasmine 85; các giống nếp.

Cơ cấu giống cho tiểu vùng:

Cơ cấu giống lúa cụ thể cho các vùng sản xuất lúa chính đề nghị như sau:


  • Vùng phù sa ngọt dọc sông Tiền, sông Hậu sử dụng các giống lúa thâm canh chất lượng cao như: VND 95 – 20, AS 996, OMCS 2000, IR 64, OM 2517, OM 4498.

  • Vùng Tây sông Hậu và Tứ giác Long Xuyên sử dụng các giống chủ lực nêu trên.

  • Vùng Đồng Tháp Mười: cơ cấu chủ lực là các giống cực sớm và sớm như OM 576, IR 50404, OMCS 2000, VND 95-20, OM 4498.

  • Vùng ven biển Nam bộ: cơ cấu chủ lực là các giống OM 576, IR 50404, OMCS 2000, AS 996, OM 4498, VND 95-20, OM 3242.

  • Vùng bán đảo Cà Mau (tính từ Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và một phần tỉnh Kiên Giang) xem xét lựa chọn các giống chủ lực nêu trên, các giống lúa ST đặc sản. Vùng đất phèn có thể sử dụng giống OM 1350, OM 2488, IR 56381 (MTL 149), AS 996, OM 3242,

Tuy nhiên về tương lai lâu dài cơ cấu giống lúa nên được hoạch định theo những định hướng cho từng vùng như sau:

+ Mỗi vùng sản xuất tùy theo điều kiện tự nhiên và theo sự giới thiệu, khuyến cáo của các cơ quan sản xuất giống chỉ nên sản xuất từ 4 – 5 giống chủ lực và lưu ý rằng không có giống chủ lực nào chiếm quá 20% diện tích. Cần quy hoạch sản xuất 1 hoặc 2 giống có những đặc tính tương đồng trong từng cánh đồng để thuận tiện cho việc áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến, phù hợp và dễ dàng hình thành một vùng hàng hóa đồng nhất.

+ Nên sử dụng giống xác nhận và cố gắng duy trì việc sản xuất 1 giống lúa trong nhiều vụ bằng các biện pháp, kỹ thuật canh tác thích hợp để gia tăng tính ổn định và khai thác hết tiềm năng năng suất của giống (hiện nay một số giống lúa chỉ có thể tồn tại trong khoảng 3 năm tại một vùng sản xuất sau đó với áp lực của các loại sâu hại đã không thể phát huy hết những đặc tính tốt của mình).

+ Bố trí cơ cấu giống cho từng vụ nên chú ý một số loại dịch hại phổ biến và những yếu tố bất lợi trong vụ đó để dùng giống có tính kháng hoặc có thể chống chịu với dịch hại hoặc chịu đựng được điều kiện bất thuận và tăng cường các biện pháp thâm canh tiên tiến để hạn chế dịch hại lây lan trên diện rộng.

+ Nên chuẩn bị một hoặc vài giống lúa mới để sản xuất thử và đánh giá tính thích nghi trong vùng để chủ động thay thế khi có những diễn biến bất lợi.

+ Mỗi hệ thống canh tác, mỗi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng… của từng vùng phải có một định hướng sử dụng giống cho phù hợp. Các giống lúa trung mùa chất lượng cao, giống lúa mùa đặc sản là những giống có thể được khuyến khích duy trì và xem xét để sản xuất tại những vùng sản xuất lúa – tôm, lúa – cá, hoặc những vùng sản xuất lúa tùy thuộc nước trời, nhiễm mặn, những vùng canh tác 1 vụ lúa…

3. Một số giống lúa đề nghị cho vụ Hè Thu 2007

Những giống lúa khuyến cáo sản xuất trong vụ Hè Thu 2007 phải dựa trên cơ sở phản ứng với rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá trong vụ Đông Xuân 2006 – 2007. Giống lúa tỏ ra chống chịu được với những dịch hại này tại địa phương cần được xem xét tiếp tục sản xuất.

Vụ Hè Thu cần quan tâm thêm về độ cứng cây, tính chống chịu với hạn đầu vụ và bệnh đốm vằn.

Ngoài những giống lúa đã được xác định trong vụ Đông Xuân 2006 – 2007, vụ Hè Thu 2007 có thể mở rộng sản xuất một số giống có triển vọng như sau: OM 5930; OM 5239; OM 3556; OM 3539; MTL 382; MTL 384; MTL 392.



4. Định hướng thay đổi giống

Các cơ sở nghiên cứu về lúa cần kế thừa phương pháp thanh lọc và tạo chọn giống lúa kháng rầy như trước đây, đồng thời ứng dụng và phát triển những công nghệ tiên tiến để có chương trình nghiên cứu giống lúa kháng rầy có hệ thống kết hợp giữa truyền thống với hiện đại.

Tuy nhiên, trước mắt cần xác định giống kháng ngay trong sản xuất. Ðồng thời, cần tập hợp được các chuyên gia tạo giống lúa có kinh nghiệm, không phân biệt trong hay ngoài các cơ quan, đơn vị có chức năng tạo chọn giống lúa, ở trong hay ngoài cơ quan nghiên cứu, có thể khuyến khích, mở rộng cho các công ty giống cùng tham gia.

Nông dân cần biết rõ vùng đất của mình, canh tác những giống có khả năng phát triển tốt theo khuyến cáo của các cơ quan nghiên cứu về giống và các cơ quan chuyên môn tại địa phương. Về lâu dài những giống lúa có chất lượng khá, phù hợp với thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu cần chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu sản xuất lúa. Những giống kháng sâu bệnh, và chống chịu điều kiện bất lợi của môi trường cần được chú ý đưa vào canh tác.



4.1. Đổi mới hạt giống

Đổi mới hạt giống là một khâu thiết yếu để duy trì phẩm chất hạt giống trong sản xuất.

Việc sử dụng hạt giống trong ruộng sản xuất qua nhiều vụ sẽ dẫn đến giống bị lẫn tạp, thoái hóa, không cho năng suất cao và tính chống chịu với điều kiện bất lợi sẽ không như hạt giống ban đầu. Do vậy, khi vẫn còn muốn canh tác giống lúa này trong ruộng sản xuất thì việc phải đổi mới hạt giống là cần thiết.

Việc đổi mới hạt giống hợp lý và tối ưu nhất là sử dụng giống xác nhận trong từng vụ sản xuất. Tuy nhiên điều này hầu như không thể và rất khó thực hiện cho tất cả diện tích gieo trồng trong tình hình hiện nay, khi mà các đơn vị, cơ sở nhân giống lúa xác nhận không thể đáp ứng nhu cầu. Vì vậy việc đổi mới hạt giống mang tính cộng đồng có thể thực hiện bằng một trong các biện pháp sau:

- Trong ruộng sản xuất của từng hộ nông dân cần để riêng ra một diện tích đất tốt nhất, bằng phẵng, đầy đủ ánh sáng và có chế độ chăm sóc riêng để cuối vụ thu hoạch làm giống cho vụ sau.

- Khi lúa trong giai đoạn sinh trưởng, trổ chín thì định kỳ tiến hành khử những cây lúa bị lẫn và khi thu hoạch thì tiến hành thu hoạch riêng bông cái của những cây lúa khỏe mạnh nhất trong ruộng để làm giống.

- Trong cộng đồng sản xuất nếu có thể thì chọn một hoặc vài nông dân có kỹ thuật thâm canh cao, có kinh nghiệm sản xuất lúa giống để chuyên sản xuất lúa giống và thỏa thuận hợp lý để cung cấp cho một nhóm nông hộ.

Những biện pháp đổi mới hạt giống như nêu trên cần được khuyến khích và phổ biến rộng rãi trong các hộ sản xuất lúa.



4.2. Thay giống mới

Việc thay thế các giống cũ trong sản xuất bằng các giống mới có nhiều đặc tính sinh học và kinh tế tốt hơn là nhiệm vụ quan trọng nhất của công tác về giống cây trồng, nhất là trong sản xuất lúa.

Mỗi một lần thay giống là một bước tiến cao hơn về chất trong việc hoàn thiện giống cây trồng. Vì lý do đó, có thể căn cứ vào nhịp độ thay thế giống để đánh giá phần nào trình độ phát triển của công tác giống cây trồng nói chung cũng như của sản xuất giống lúa nói riêng. Thực tiễn sản xuất ở vùng ĐBSCL cho thấy nhịp độ thay giống lúa khá nhanh trên quy mô rộng lớn sau ngày giải phóng đến nay, Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL đã lai tạo, tuyển chọn và phóng thích ra sản xuất hàng trăm giống lúa có chất lượng cao, kháng sâu bệnh, đã góp phần đáng kể cho sản xuất lúa cũng như xuất khẩu gạo của nước ta, đem lại lợi nhuận không nhỏ cho người nông dân ĐBSCL.

Tuy nhiên, do sự thiếu chặt chẽ trong công tác chọn giống cũng đã xảy ra tình trạng một số giống mới không có triển vọng và không được nghiên cứu đầy đủ đã được phổ biến ra sản xuất. Điều này đã mang lại những thiệt hại đáng tiếc.

Để khắc phục tình trạng nói trên cần phải làm sao cho từ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý đến tận người sản xuất đều hiểu rõ là việc thay giống mới chỉ nên tiến hành trong 3 trường hợp sau:

Một là, khi các nhà chọn giống đã tạo ra được giống mới có một số ưu điểm có giá trị kinh tế hơn hẳn các giống cũ đang dùng trong sản xuất.

Hai là, khi điều kiện sinh thái trong vùng thay đổi làm các giống đang sử dụng trở nên không thích hợp nữa. Ví dụ như sự bộc phát của những loại dịch hại, sự thay đổi về điều kiện thủy văn, thủy nông…

Ba là, khi có sự thay đổi về hướng sử dụng sản phẩm như để chế biến, tiêu thụ nội địa, xuất khẩu.



4.3. Những yêu cầu cơ bản đối với một giống lúa mới

Nền nông nghiệp hiện đại có những yêu cầu ngày càng cao đối với giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng. Điều kiện tự nhiên rất đa dạng của các vùng sinh thái khác nhau lại có những yêu cầu cụ thể khác nhau đối với giống. Tuy nhiên, nhìn chung giống lúa được trồng phải đáp ứng những yêu cầu chính sau:

- Giống lúa phải có khả năng cho năng suất cao và ổn định. Đây là yêu cầu quan trọng nhất, vì năng suất bao giờ cũng là kết quả tổng hợp của tất cả các quá trình sinh trưởng và phát triển cũng như mức độ kháng sâu bệnh của cây lúa.

- Giống lúa phải có khả năng chống chịu được các điều kiện ngoại cảnh bất lợi. Tùy theo điều kiện cụ thể của từng vùng sinh thái mà giống phải có các đặc tính như chịu hạn, chịu ngập, chịu nóng, chịu lạnh, chịu phèn, chịu mặn, không đổ ngã v.v… Khả năng chống chịu điều kiện bất lợi của ngoại cảnh giúp cho lúa có năng suất ổn định. Để đảm bảo được năng suất ổn định ở những vùng và những mùa vụ thường bị hạn cần tạo ra những giống chịu hạn. Những vùng đất phèn, mặn, việc cải tạo các loại đất này rất tốn kém và đòi hỏi thời gian dài, vì vậy sản xuất đòi hỏi các giống chịu phèn, chịu mặn và có năng suất cao hơn những giống hiện trồng trên vùng đất này. Hiện tượng đổ ngã thường gây ra những thiệt hại lớn về năng suất, phẩm chất của sản phẩm bị giảm sút, vì vậy việc tạo giống kháng đổ ngã là một yêu cầu rất quan trọng, nhất là với những vùng và mùa vụ có mưa to, gió lớn…

- Giống lúa phải có khả năng kháng một số sâu, bệnh chính trong vùng. Sâu bệnh thường gây ra những thiệt hại lớn đến năng suất, có khi bị mất trắng như trường hợp lúa bị bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá ở ĐBSCL hiện nay. Các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh bằng hóa chất thường tốn kém và làm ô nhiễm môi trường, nhưng không phải bao giờ cũng đạt được những kết quả mong muốn. Việc xử lý bằng thuốc trừ sâu thường kèm theo những hậu quả tiêu cực đối với những loài côn trùng có ích, kẻ thù của những côn trùng có hại. Ngoài ra, dùng thuốc hóa học phòng trừ sâu bệnh không hợp lý sẽ làm mất cân bằng sinh thái, những côn trùng có lợi bị tiêu diệt và những côn trùng có hại thường tạo ra những khả năng sinh sản ào ạt trở lại để gây hại cho lúa. Vì những lý do trên, việc đưa vào sản xuất các giống lúa có khả năng kháng sâu bệnh sẽ khắc phục được những nhược điểm cơ bản của biện pháp phòng trừ sâu, bệnh bằng hóa chất và mang lại hiệu quả kinh tế to lớn trong sản xuất nông nghiệp.

- Giống lúa phải thích hợp với điều kiện canh tác trong vùng. Ở những nơi có mức độ cơ giới hóa cao trong sản xuất nông nghiệp thì các giống lúa phải có những đặc tính thích hợp với việc canh tác bằng cơ giới hóa, có độ đồng đều cao, cứng cây, không đổ ngã, ít rụng hạt. Trong điều kiện có đủ phân bón hay có thể tưới tiêu tự động thì cần những giống có phản ứng tốt với liều lượng phân bón cao hay với nước tưới, nhưng trong điều kiện thiếu phân, thiếu nước người ta lại cần những giống ít đòi hỏi phân và chịu hạn…

- Giống lúa phải có phẩm chất tốt, đáp ứng được yêu cầu của thị trường.

IV. Tổ chức hệ thống sản xuất, cung ứng và quản lý chất lượng giống lúa

1. Phân cấp hạt giống lúa

Theo Quyết định 53/2006/QĐ- BNN ngày 26 tháng 6 năm 2006 về quản lý, sản xuất, kinh doanh và sử dụng giống lúa, hạt giống lúa được phân cấp như sau:



  • Hạt giống tác giả (TG) là hạt giống thuần do tác giả chọn, tạo ra.

  • Hạt giống lúa siêu nguyên chủng (SNC) là hạt giống lúa được nhân ra từ hạt giống tác giả hoặc phục tráng từ hạt giống sản xuất theo quy trình phục tráng hạt giống siêu nguyên chủng và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.

  • Hạt giống lúa nguyên chủng (NC) là hạt giống lúa được nhân ra từ hạt giống siêu nguyên chủng và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.

  • Hạt giống lúa xác nhận (XN) là hạt giống được nhân ra từ hạt giống nguyên chủng và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.

Yêu cầu kỹ thuật của ruộng giống lúa và hạt giống lúa các cấp được quy định trong Tiêu chuẩn Việt Nam - Hạt giống lúa yêu cầu kỹ thuật (TCVN 1776-2004). Chất lượng hạt giống yêu cầu cho mỗi cấp giống lúa khác nhau, đặc biệt là độ thuần giống.

2. Điều kiện sản xuất, kinh doanh giống lúa

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống lúa phải đảm bảo các điều kiện sau (theo Quyết định 53/2006/QĐ-BNN):



2.1. Đối với cấp giống XN

a) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh về lĩnh vực giống cây trồng;

b) Có địa điểm sản xuất, kinh doanh phù hợp với yêu cầu sản xuất, kinh doanh giống lúa cấp XN;

c) Có cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho khâu sản xuất, chế biến và bảo quản phù hợp;

d) Có hoặc thuê cán bộ kỹ thuật có trình độ từ trung cấp trồng trọt, bảo vệ thực vật trở lên hoặc có chứng chỉ đào tạo về kỹ thuật sản xuất hạt giống lúa;

e) Giống lúa sản xuất phải có trong Danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh;

g) Phải tuân thủ Quy trình sản xuất hạt lúa giống do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành cho cấp giống XN.

2.2. Đối với cấp giống SNC, NC và hạt lai F1, ngoài các điều kiện quy định tại phần 2.1 nêu trên phải đáp ứng các yêu cầu sau:

a) Đăng ký chứng nhận chất lượng giống cây trồng phù hợp tiêu chuẩn tại tổ chức chứng nhận chất lượng giống cây trồng trước khi sản xuất giống.

b) Cán bộ kỹ thuật quy định tại điểm d (2.1) tối thiểu phải có trình độ đại học chuyên ngành trồng trọt hoặc bảo vệ thực vật.

c) Phải tuân thủ Quy trình sản xuất hạt giống lúa cấp SNC, NC do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, đặc biệt phải thực hiện nghiêm ngặt các nội dung sau:

- Nếu vật liệu khởi đầu là hạt giống tác giả hoặc hạt giống cấp SNC thì phải qua hai vụ để có hạt SNC và ba vụ để có hạt NC.

- Nếu vật liệu khởi đầu từ nguồn hạt giống chưa đạt chất lượng cấp SNC thì phải qua ba vụ để có hạt SNC và bốn vụ để có hạt NC.

d) Nghiêm cấm việc sản xuất hạt giống cấp SNC theo phương pháp chọn và nhân đơn dòng.

3. Hệ thống tổ chức nhân giống

Để phát huy đầy đủ và hiệu quả của công tác giống cần phải có một hệ thống tổ chức sản xuất giống hoàn chỉnh và chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, đảm bảo việc cung cấp đầy đủ và nhanh chóng hạt giống lúa có chất lượng cao theo yêu cầu của sản xuất, chúng tôi xin đề xuất hệ thống nhân giống như sau:



Bảng 4: Hệ thống tổ chức nhân giống lúa các cấp

Cấp giống

Mục đích sử dụng

Đơn vị sản xuất

Siêu nguyên chủng

Nhân giống Nguyên chủng

Viện nghiên cứu, Trường Đại Học và một số Công ty, Trung tâm có đủ điều kiện dưới sự giám sát của tác giả.

Nguyên chủng

Chủ yếu để nhân giống xác nhận

Các Công ty/ đơn vị SX có đủ điều kiện, Viện, Trường ĐH, Trung tâm giống của Tỉnh.

Xác nhận

Để sản xuất lúa thương phẩm, không sử dụng làm giống

Các Công ty, Trạm, Trại, Hợp tác xã, Câu lạc bộ nông dân, nông dân sản xuất giống …

4. Kế hoạch sản xuất giống các cấp năm 2007

Hàng năm diện tích gieo trồng lúa ở ĐBSCL khoảng 3,5 triệu ha, trong đó vụ Đông Xuân 1,5 triệu ha, vụ Hè Thu và Thu Đông khoảng 1,6 triệu ha (theo hướng giảm dần vụ Thu Đông) và vụ Mùa khoảng 0,4 triệu ha. Tổng khối lượng hạt giống sử dụng cho sản xuất khoảng 420.000 tấn (định mức gieo sạ 120 kg giống/ha). Trong một hai năm tới, nếu đặt mục tiêu tỉ lệ sử dụng giống xác nhận ở ĐBSCL đạt 50% thì khối lượng giống các cấp cần sản xuất cả năm như sau:

Hạt giống SNC 44 tấn.

Hạt giống NC 4.250 tấn

Hạt giống XN 210.000 tấn.

Để cung ứng hạt giống đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng thì kế hoạch sản xuất giống phải được xây dựng sớm (trước 1 - 2 vụ) và có tổ chức, phân công nhiệm vụ thực hiện cụ thể.

Nguyên tắc là vụ Đông Xuân nhân giống cho vụ Hè Thu và vụ Mùa; vụ Hè Thu nhân giống cho vụ Đông Xuân năm sau. Kế hoạch sản xuất giống các cấp ở ĐBSCL năm 2007 được đề xuất như sau:

Bảng 5: Kế hoạch chi tiết sản xuất giống lúa các cấp năm 2007 ở ĐBSCL


Vụ

Cấp giống

Diện tích SX (ha)

Khối lượng

(tấn)

Mục đích sử dụng

Đông Xuân

06/ 07


SNC

10

25

Sản xuất giống NC vụ Hè Thu và Mùa 2007

NC

375

2.250

Sản xuất giống XN vụ Hè Thu 2007

XN

20.000

120.000

Sản xuất đại trà vụ Hè Thu 2007

Hè Thu 2007

SNC

9,5

19

Sản xuất giống NC vụ Đông Xuân 07/ 08

NC

500

2.000

Sản xuất giống XN vụ Đông Xuân 07/ 08

XN

22.500

90.000

Sản xuất đại trà vụ Đông Xuân 07/ 08

Ghi chú:

  • Năng suất sản xuất lúa giống trong vụ Đông Xuân ước đạt 6 tấn/ ha cho cấp NC và XN; 2,5 tấn/ ha cho cấp SNC. Trong vụ Hè Thu đạt 4 tấn/ ha cho cấp NC và XN; 2,0 tấn/ ha cho cấp SNC.

  • Tỉ lệ hạt giống SNC gieo để sản xuất NC là 50 kg/ ha, NC để sản xuất XN là 100 kg/ ha và giống XN cho sản xuất đại trà là 120 kg/ ha.



  • Giống lúa tập trung sản xuất cho những năm tới trong vụ Đông Xuân và Hè Thu là VNĐ 95-20, IR 64, OM 4498, OM 4495, AS 996, OM 2517, OM 2395, OM 576, IR 50404, OM 3536, Jasmine 85, VD 20, MTL 384, OM 5930, và một số giống mới triển vọng khác; vụ mùa là IR 29723, IR 42, một số giống nếp và mùa đặc sản.

Trong kế hoạch về diện tích và khối lượng sản xuất giống các cấp trình bày trong bảng trên, các Viện nghiên cứu, Trường đại học và Công ty có đủ điều kiện phải đảm nhận sản xuất 100% hạt giống SNC. Để đảm bảo sự đồng nhất, cấp giống SNC phải được sản xuất theo tiêu chuẩn 10 TCN 395-1999 bởi tác giả giống hoặc dưới sự giám sát, hướng dẫn của tác giả. Cấp giống NC sẽ được sản xuất chủ yếu bởi các công ty hoặc trung tâm giống các tỉnh, một số trạm, trại cấp huyện và câu lạc bộ sản xuất giống có đủ điều kiện kỹ thuật và trang thiết bị sản xuất, chế biến. Lượng giống XN sẽ được sản xuất bởi cả hệ thống giống chính quy và không chính quy.

Trong tình hình hiện nay, việc tăng cường và phát huy sản xuất giống quy mô nông hộ, hợp tác xã, câu lạc bộ sản xuất giống… là rất cần thiết để có đủ lượng hạt giống XN; tuy nhiên hệ thống sản xuất chính quy phải giữ vị trí chủ đạo và đảm trách tối thiểu 50% khối lượng giống XN cho yêu cầu sản xuất.

Trên cơ sở mục tiêu phát triển giống XN, các tỉnh cần tiến hành xây dựng kế hoạch sản xuất giống 5 năm tới (giai đoạn 2006-2010) cụ thể cho từng vụ, từng cấp giống và đề ra các biện pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả và khả thi, phấn đấu toàn ĐBSCL đạt tỉ lệ sử dụng giống XN 50% trước năm 2010.

5. Kiểm định, kiểm nghiệm và chứng nhận chất lượng giống lúa

Để đảm bảo chất lượng hạt giống lúa, cần phải tăng cường công tác quản lý chất lượng (QLCL). Việc QLCL được thực hiện theo Quyết định 53/ 2006/ QĐ-BNN như sau:



  • Hạt giống lúa phải được kiểm định, kiểm nghiệm chất lượng.

  • Hạt giống lúa cấp SNC, NC, hạt lai F1 phải được kiểm định, kiểm nghiệm và chứng nhận chất lượng phù hợp tiêu chuẩn.

  • Tổ chức, cá nhân sản xuất các cấp giống lúa SNC, NC và hạt lai F1, trước khi sản xuất phải đăng ký chứng nhận chất lượng phù hợp tiêu chuẩn.

  • Việc kiểm định đồng ruộng, lấy mẫu, kiểm nghiệm và chứng nhận chất lượng giống lúa SNC, NC và hạt lai F1 phải tuân thủ Quy định chứng nhận phù hợp chuẩn (Quyết định 52/ 2006/ QĐ-BNN) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.

  • Người kiểm định, người lấy mẫu giống lúa phải có giấy chứng nhận là người lấy mẫu, người kiểm định do Cục trưởng Cục Trồng trọt cấp.

Hiện nay toàn ĐBSCL chưa có Phòng kiểm nghiệm (PKN) giống cây trồng được công nhận. Vì vậy việc tăng cường trang thiết bị kiểm định, kiểm nghiệm, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên ngành và hướng dẫn vận hành hệ thống chất lượng ở PKN là rất cần thiết và cần được quan tâm. Phấn đấu trong giai đoạn 2007 - 2008 phải có tối thiểu 4 PKN được công nhận và hoạt động có hiệu quả ở ĐBSCL.

Phần thứ hai:

THỜI VỤ SẢN XUẤT LÚA

VÀ HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU SẢN XUẤT

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

I. Mùa vụ sản xuất ở ĐBSCL

1. Thực trạng thời vụ sản xuất lúa hiện nay

Đồng bằng sông Cửu Long với 6 tiểu vùng sinh thái là Đồng Tháp Mười; Tứ giác Long Xuyên; Phù sa giữa sông Tiền, sông Hậu; Tây sông Hậu; Ven biển Nam bộ; Bán đảo Cà Mau. Từng tiểu vùng có điều kiện tự nhiên về đất đai, thời tiết, khí tượng thủy văn, hệ canh tác, kỹ thuật, tập quán canh tác… khác nhau do vậy mùa vụ canh tác lúa cũng mang tính đặc thù của từng tiểu vùng.

Trong nhiều năm qua, do điều kiện tự nhiên, ưu thế của từng vùng và do sự phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương mà hình thành cơ cấu cây trồng và thời vụ lúa khác nhau trong năm. Hệ thống mùa vụ lúa của các tỉnh ĐBSCL đã trở nên rất phức tạp, theo thống kê được thì hiện nay gồm có các vụ lúa như sau:


  1. Vụ Đông Xuân: Được sản xuất hầu hết ở các tỉnh (trừ Cà Mau với diện tích chỉ có 50 ha). Thời vụ xuống giống chính từ 15/10 đến 15/01. Xuống giống sớm nhất vào đầu tháng 10 (một số vùng của Vĩnh Long, Sóc Trăng, Kiên Giang, Long An, Hậu Giang). Xuống giống muộn nhất vào giữa tháng 1 năm sau (một số diện tích của tỉnh Đồng Tháp và An Giang).

  2. Vụ Hè Thu: Thời vụ xuống giống chính từ 01/03 đến 30/05. Một số tỉnh có diện tích xuống giống sớm hơn vào đầu tháng 02 (Tiền Giang, Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu) có nơi gọi diện tích xuống giống sớm này là vụ Xuân Hè, có nơi gọi là vụ Hè Thu sớm. Xuống giống muộn nhất vào nữa cuối tháng 6 có các tỉnh (Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) một số nơi gọi diện tích xuống giống muộn này là vụ Hè Thu muộn và thống kê vào vụ lúa Hè Thu, có nơi thống kê vào diện tích lúa Thu Đông.

  3. Vụ Thu Đông: Một số tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, xuống giống phổ biến vào 15/06 đến 30/08. An Giang và Đồng Tháp có diện tích xuống giống sớm vào cuối tháng 5 kết thúc vào cuối tháng 8. Các tỉnh ven biển Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau thường bắt đầu muộn hơn vào tháng đầu tháng 8 và kết thúc vào cuối tháng 9.

  4. Vụ Mùa: Các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hậu Giang đã không còn sản xuất vụ mùa. Vụ mùa thường bắt đầu sạ, cấy vào đầu tháng 6 – 7 và kết thúc vào cuối tháng 9. Đây là vụ lúa tương đối phức tạp vì có nơi xuống giống (sạ, cấy) bằng giống lúa mùa địa phương gọi là mùa đặc sản; có nơi sử dụng giống trung mùa, có nơi lại dùng giống ngắn ngày (90 - 100 ngày) gọi là mùa cao sản và thống kê vào diện tích lúa Thu Đông.

Thời vụ lúa như vậy và việc sử dụng giống lúa trong từng mùa vụ, tại từng nơi cũng chưa đồng nhất về thời gian sinh trưởng dẫn đến sự liên tục hiện diện của cây lúa trên đồng ruộng, gây khó khăn trong quản lý thời vụ, đất đai, nguồn nước và dịch hại.

Sản xuất lúa tại ĐBSCL còn chịu ảnh hưởng rất lớn của đặc điểm thời tiết, khí hậu Nam bộ, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (tập trung vào giữa vụ Hè Thu và trong vụ Thu Đông), mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau (cuối vụ Mùa và vụ Đông Xuân) gây hiện tượng thừa, thiếu nước trong từng vụ.

Ngoài ra còn có một mùa lũ từ sông Mê Kông bắt đầu từ tháng 6, 7 và đỉnh cao vào tháng 9, 10 hàng năm ảnh hưởng đến một vùng sản xuất lúa rộng lớn.

Các tỉnh ven biển còn chịu ảnh hưởng của sự xâm nhập mặn bắt đầu vào khoảng nửa cuối tháng 12 đầu tháng 1 năm sau và kết thúc vào cuối tháng 4 khi bắt đầu mùa mưa.

Việc xuống giống lúa của một số tỉnh nam quốc lộ 1 và một phần bắc quốc lộ 1 còn chịu ảnh hưỏng của chế độ bán nhật triều biển Đông phải xuống giống vào chỉ 2 đợt trong tháng theo lịch triều cường (nước kém xuống giống để nước lớn đưa nước vào ruộng).

Trong từng vùng sản xuất nhỏ của từng địa phương, địa hình đất đai không đồng đều có nơi cao, nơi thấp, vùng triền trũng đan xen, các thành phần đất khác nhau, nhiễm phèn nhẹ, trung bình, đến nhiễm nặng, đất xám, đất thịt, đất pha cát… Nên việc xuống giống cũng tuân theo địa hình này.

Tất cả những yếu tố này làm cho thời vụ xuống giống, chăm sóc và thu hoạch lúa rất nghiêm ngặt trong từng vùng, từng vụ lúa. Tuy vậy, dù đã cố gắng sắp xếp thời vụ cho phù hợp nhưng hàng năm vẫn còn có một phần diện tích bị thiệt hại do những ảnh hưởng bất lợi của thời tiết gây ra.

Thời vụ lúa mang tính đặc thù của từng địa phương, từng vùng sản xuất nhỏ nên hầu hết các tỉnh đều chia diện tích sản xuất lúa nói riêng và sản xuất nông nghiệp của tỉnh nói chung ra làm nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau từ đó bố trí cây trồng và cơ cấu mùa vụ cho phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái trong địa phương.

Thời vụ lúa hiện nay, nhìn chung chịu ảnh hưởng rất lớn từ đặc điểm của những tiểu vùng sinh thái, từ sự chủ động nguồn nước ở các hệ thống kênh mương thủy lợi hoặc từ nguồn nước trời, từ sự đầu tư cho sản xuất của từng hộ gia đình và những tác động vào cơ sở hạ tầng của nhà nước như hệ thống giao thông, đê bao, thủy lợi…

Nhiều hộ nông dân cảm thấy thời vụ như vậy là phù hợp với họ trong việc áp dụng một số tập quán canh tác, sử dụng lao động gia đình hoặc thực hiện thời vụ này vì theo truyền thống nhiều năm của ruộng sản xuất. Số đông hộ sản xuất muốn thay đổi cơ cấu mùa vụ để có thể áp dụng được một số kỹ thuật canh tác tiên tiến, hoặc muốn bỏ đi một vụ sản xuất trong năm (ở những nơi sản xuất 3 vụ) nhưng vì chưa có sự chỉ đạo, quy hoạch và nhiều nông dân khác vẫn sản xuất nên họ cũng phải thực hiện theo hoặc do điều kiện phục vụ sản xuất chưa đạt theo yêu cầu. Mặt khác muốn thay đổi cơ cấu cây trồng còn lệ thuộc rất nhiều vào thị trường tiêu thụ, vào thông tin tuyên truyền, tập huấn kỹ thuật…

Hai nhóm thời vụ điển hình của hai vùng sinh thái lớn được trình bày dưới đây mang tính tham khảo cho thấy sự đa dạng của mùa vụ sản xuất lúa tại ĐBSCL

Thời vụ điển hình của 2 vùng sản xuất lúa


ĐX

2 luùa + Caù/toâm


Sự đầu tư cho hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất lúa, nhất là thủy lợi nội đồng, chủ động tưới tiêu, việc đẩy mạnh canh tác những giống lúa ngắn ngày cùng với sự gia tăng tiêu thụ và xuất khẩu gạo đã mở đầu cho việc sản xuất thêm một vụ lúa trong năm ở những nơi trước đây chỉ sản xuất 2 vụ lúa (vụ 3 được xem là vụ Thu Đông) và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay ở một số vùng có điều kiện sản xuất tốt. Sự sáng tạo của nông dân và sự đồng tình, ủng hộ của ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương trong nhiều năm qua đã làm cho sản xuất lúa vụ 3 từng bước đi vào ổn định, đóng góp vào tổng sản lượng lương thực của ĐBSCL.

Thực chất của vấn đề canh tác lúa vụ 3 là tận dụng tối đa việc sử dụng ruộng đất, gia tăng thêm thu nhập cho nông dân, giải quyết được việc làm cho lao động nông nghiệp.

Tuy nhiên, những vùng sản xuất 3 vụ lúa trong năm hoặc có nơi sản xuất 7 vụ lúa trong 2 năm, gần đây đã cho thấy có nhiều khó khăn. Vụ lúa nằm trong một khoảng thời gian có nhiều điều kiện bất lợi về thời tiết (hầu hết thời gian sinh trưởng của cây lúa nằm trọn trong thời kỳ cao điểm của mùa mưa, lũ, bão), chăm sóc và thu hoạch gặp nhiều khó khăn, cây lúa dễ bị ngộ độc hữu cơ vào đầu vụ, dễ đổ ngã và bị ngập lụt vào cuối vụ; xuất hiện nhiều loại dịch hại; năng suất không cao. Làm giảm độ phì nhiêu đất do phải tranh thủ xuống giống cho kịp thời vụ nên không có thời gian cày ải, phơi đất (từ vụ Đông Xuân sang Hè Thu), rơm rạ không được phân hủy để bồi bổ lại chất hữu cơ (thường được đốt đi cho kịp thời vụ xuống giống); chất dinh dưỡng bị lấy đi nhiều qua hai vụ lúa trước vì vậy khi canh tác vụ 3 phải bón thật nhiều phân để cung cấp dinh dưỡng cho đất; do canh tác lúa nên không có thời gian đưa nước lũ vào ruộng để tăng cường lượng phù sa cho đất; áp lực của các loài sâu bệnh gây hại gia tăng và khó khăn trong việc cắt đứt nguồn sâu bệnh nên có khả năng bộc phát cục bộ thành dịch, từ đó làm tăng chi phí phân bón, thuốc trừ sâu, giảm năng suất và chất lượng lúa gạo.

Canh tác thêm vụ 3 chỉ thật sự an toàn ở những nơi hoàn toàn chủ động về thời vụ sản xuất, có thời gian cách ly giữa 2 vụ ít nhất 30 ngày, điều này đòi hỏi phải sử dụng những giống lúa cực ngắn ngày (TGST 90 ngày) trong cả 3 vụ canh tác hoặc phải dùng biện pháp làm mạ, cấy để tranh thủ thời gian cho đất nghỉ giữa 2 vụ lúa, có hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, có kỹ thuật làm đất tốt, phương tiện sản xuất đầy đủ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong canh tác đồng bộ, có quy hoạch, phân vùng, bố trí thời vụ canh tác hợp lý và được quản lý, theo dõi chặt chẽ. Những vùng mà trong một vài năm gần đây canh tác vụ 3 có nhiều bấp bênh, năng suất, sản lượng không cao, không an toàn, không quản lý được dịch hại làm ảnh hưởng đến những vùng sản xuất lúa chính của địa phương thì từng bước chuyển sang các loại cây trồng khác cho phù hợp và đảm bảo an toàn cho sản xuất lúa.

2. Những định hướng về thời vụ sản xuất lúa trong thời gian tới

Trong tình hình sản xuất hiện nay và thực tế thời vụ tại các địa phương, việc sắp xếp và định hướng thời vụ sản xuất lúa cho hợp lý về mùa vụ, về cơ cấu cây trồng là một việc làm cần phải được thực hiện đồng bộ và lâu dài.



2.1. Về cơ cấu mùa vụ

+ Trước mắt vẫn còn một số vùng sản xuất 3 vụ lúa trong năm, cơ cấu mùa vụ nên là: lúa Đông Xuân + lúa Hè Thu + lúa Thu Đông.

+ Cơ cấu 2 vụ lúa trong năm là mục tiêu cần được xây dựng lại tại các tỉnh, tùy theo điều kiện của từng vùng mà cơ cấu mùa vụ có thể là:


  • Lúa Đông Xuân + lúa Hè Thu

  • Lúa Hè Thu + lúa Mùa (giống Mùa đặc sản hoặc giống trung mùa chất lượng cao)

+ Cơ cấu 1 vụ lúa mùa: Giống Mùa đặc sản hoặc giống trung mùa chất lượng cao kết hợp nuôi thủy sản mùa khô (tôm sú).

2.2. Về thời vụ xuống giống

+ Vụ Đông Xuân: Thời điểm tập trung xuống giống nên bắt đầu từ 15/11 và kết thúc vào 30/12.

+ Vụ Hè Thu: Thời điểm tập trung xuống giống nên bắt đầu từ 15/04 và kết thúc vào 30/5.

+ Vụ Thu Đông: Thời điểm tập trung xuống giống nên bắt đầu từ 01/7 và kết thúc vào 15/8.



+ Vụ Mùa

  • Mạ trong tháng 6 và cấy vào tháng 8.

  • Sạ trong tháng 8 bằng các giống trung mùa.

3. Phương pháp xây dựng lịch thời vụ cho từng địa phương

    1. Điều tra xác định hiện trạng đất đai, hệ thống thủy lợi nội đồng, chế độ thủy văn trong từng khu vực.

    2. Điều tra cơ cấu mùa vụ hiện tại và dự kiến kế hoạch mùa vụ sắp tới.

    3. Xác định cơ cấu cây trồng, giống cây trồng, cơ cấu mùa vụ. Xây dựng lịch thời vụ cho từng loại cây, lấy thời vụ lúa Đông Xuân và Hè Thu làm trọng tâm. Các mùa vụ và cơ cấu cây trồng khác được bố trí xoay quanh 2 mùa vụ này.

    4. Lập bản đồ xuống giống (đơn giản bằng phát thảo vùng đất), thông báo rộng rãi cho nông dân trong vùng tham khảo. Lấy ý kiến nông dân và nếu có thể thì điều chỉnh cho phù hợp.

    5. Theo dõi việc thực hiện xuống giống như kế hoạch dự kiến, ghi chép những thuận lợi và bất lợi trong thời điểm xuống giống, sinh trưởng của cây lúa, thu hoạch, kết hợp với việc theo dõi tình hình thời tiết, thủy văn trong thời kỳ sản xuất và điều chỉnh cho hợp lý ở những vụ sau.

    6. Hình thành lịch thời vụ cho nhiều vụ sản xuất trong năm, điều chỉnh trong từng năm cho đến khi có được lịch thời vụ hoàn chỉnh.

    7. Trong quá trình xây dựng lịch thời vụ cần thiết có những đề xuất với chính quyền địa phương hỗ trợ về các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp để lịch thời vụ mang tính khả thi.

4. Bố trí thời vụ vụ Đông Xuân 2006 – 2007 và vụ Hè Thu 2007 nhằm hạn chế sâu bệnh hiện nay

4.1. Một số điều cần lưu ý

  1. Dựa vào tình hình phát sinh, phát triển của dịch hại nhất là rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trong những vụ gần đây. Cần thiết phải cách vụ, giãn vụ, gom vụ để cách ly vòng đời, giảm mật số rầy, hạn chế dịch bệnh.

  2. Tùy theo cơ cấu mùa vụ của từng vùng sản xuất. Ví dụ: cơ cấu 2 vụ lúa: ĐX – HT, cơ cấu 3 vụ lúa: ĐX – HT – TĐ hoặc cơ cấu ĐX – HT – Màu ... Xác định thời vụ của vụ trước sẽ liên quan đến thời vụ của vụ sau (Cơ cấu 2 vụ lúa chủ động lịch thời vụ hơn cơ cấu 3 vụ).

  3. Căn cứ vào điều kiện thời tiết, khí tượng, thủy văn… Những vùng chịu ảnh hưởng và không chịu ảnh hưởng của ngập lũ, những vùng sản xuất theo nước mưa, những vùng ảnh hưởng của thủy triều biển Đông, những vùng có hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, chủ động tưới tiêu… (Vùng chủ động nước sẽ bố trí lịch thời vụ theo ý muốn, vùng không chủ động nước bố trí theo việc thoát lũ, nước mưa, thủy triều…).

  4. Dựa vào đặc điểm đất đai của từng vùng, đất phèn, đất nhiễm mặn, đất gò cao, triền, trũng… (đất gò cao xuống giống sớm hơn đất triền, trũng trong vụ Đông Xuân nhưng xuống giống muộn hơn trong vụ Hè Thu. Đất nhiễm phèn, mặn phải có thời gian rửa phèn mặn trước khi xuống giống).

  5. Dựa vào tập quán canh tác và mùa vụ truyền thống của từng vùng có sự điều chỉnh cho phù hợp (phương pháp làm đất: có làm đất hay không, phơi ải hay ngâm rũ, ... ảnh hưởng đến thời gian xuống giống).

  6. Vấn đề lao động theo mùa vụ, tính chất cơ giới hóa trong sản xuất là tiêu chí cần quan tâm trong việc bố trí thời vụ.

  7. Giá cả thu mua lúa vào các thời điểm khác nhau sẽ tác động đến việc bố trí cơ cấu thời vụ (ví dụ: lúa ĐX thu hoạch trước Tết nguyên đán sẽ có giá cao hơn lúa thu hoạch sau Tết dẫn đến việc gieo sạ ĐX sớm – tháng 10 dl).

4.2. Thời vụ gieo sạ Đông Xuân 2006 - 2007

  1. Chủ động gieo sạ đồng loạt, tập trung.

  2. Thời điểm xuống giống vụ Đông Xuân cần cách vụ lúa trước từ 1-2 tháng. Đây là biện pháp hiệu quả để cách ly nguồn thức ăn, chia cắt vòng đời, giảm mật số của rầy nâu.

  3. Tùy điều kiện cụ thể của mỗi địa phương mà xác định thời gian xuống giống cho phù hợp, tuy nhiên thời gian xuống giống nên tập trung trong khoảng thời gian từ 30 - 45 ngày trong mỗi vụ. Vụ Đông Xuân 2006 - 2007 bắt đầu xuống giống từ 15/11 đến 30/12 và kết thúc xuống giống trễ nhất vào thượng tuần tháng 1/2007.

4.3. Thời vụ Hè Thu 2007

Khoảng thời gian từ sản xuất lúa vụ Đông Xuân sang Hè Thu tại ĐBSCL là thời điểm thích hợp nhất cho chia cắt vòng đời của rầy nâu và các loại dịch hại khác. Đây là thời điểm tốt nhất trong năm giữa 2 vụ lúa chính không có hoặc có rất ít cây lúa hiện diện trên đồng ruộng, không giống như thời điểm chuyển từ vụ Hè Thu sang Đông Xuân, trên ruộng còn có sự hiện diện của lúa vụ 3 (Thu Đông) và lúa Mùa địa phương. Vì vậy cần tập trung các giải pháp trước sản xuất để phòng trừ rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá.

Chuẩn bị cho sản xuất vụ Hè Thu 2007, vấn đề quan tâm hàng đầu là:


  • Vệ sinh đồng ruộng ngay sau thu hoạch lúa Đông Xuân, cày ải, phơi đất, vùi rơm rạ. Biện pháp này rất hữu hiệu về nhiều mặt, không chỉ là phòng trừ rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá mà còn cải tạo đất, làm bằng mặt ruộng, tăng cường hữu cơ, tạo thông thoáng… cho đất sản xuất lúa.

  • Không bố trí sản xuất lúa Xuân Hè (Hè Thu sớm), chuyển sang trồng một vụ màu.

  • Thời vụ đề nghị: từ 15/04 đến 30/05/2007.

  • Chú ý thời gian dãn giữa vụ Đông Xuân và Hè Thu là 30 – 45 ngày.

II. Chuyển đổi cơ cấu sản xuất trên nền đất lúa

1. Sự cần thiết chuyển đổi cơ cấu sản xuất trên nền đất lúa hiện nay

Tiềm năng phát triển nông nghiệp nói chung của ĐBSCL còn rất lớn, nhưng hiện nay thực tế chuyển biến chưa theo kịp. Đời sống nhân dân nông thôn đặc biệt vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn rất khó khăn.

ĐBSCL phải phát triển nhanh theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết khó khăn nhất là cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống nhân dân kể cả về văn hóa - xã hội. Có như vậy mới hạn chế dòng người nhất là lao động có kỹ thuật về các khu công nghiệp, đặc biệt là Tp. Hồ Chí Minh.

Đất đai và điều kiện tự nhiên vùng ĐBSCL thích hợp cho canh tác nhiều loại cây trồng. Một số vùng trồng lúa gặp khó khăn trong một vụ nào đó trong năm hoặc những vùng sản xuất 3 vụ lúa trong năm mà vụ thứ 3 sản xuất rất bấp bênh thì việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng là hết sức cần thiết. Trong xu hướng sản xuất hiện tại và trong tương lai thì việc canh tác với cơ cấu 2 vụ lúa + 1 màu; 1 lúa + 2 màu; 1 lúa + 1 nuôi thủy sản, trên nền đất trồng lúa là cơ cấu mang tính bền vững trong sản xuất, góp phần vào việc tăng cường các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong canh tác, hạn chế dịch hại và ít làm suy kiệt đất đai.

Sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp ở ĐBSCL đang đứng trước những khó khăn và thách thức về chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phải hình thành vùng hàng hóa đủ sức cạnh tranh, nhiều mặt hàng có nhu cầu cao trong nước có thể sản xuất được tại vùng này như bắp, đậu nành, đậu phọng, mè… nhưng quy mô sản xuất còn rất nhỏ, năng suất, chất lượng chưa cao, giá thành chưa hạ nên chưa thể thay thế được hàng nhập khẩu.

Hầu hết các tỉnh ĐBSCL đều có những sản phẩm nông nghiệp tương tự nhau. Chưa phát huy được lợi thế cạnh tranh trong từng vùng sản xuất.



2. Một số định hướng về chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho các tiểu vùng

2.1. Vùng phù sa ngọt dọc sông Tiền sông Hậu

  • Giảm bớt sản xuất lúa vụ 3 ở những cùng đất không an toàn và nhiều năm bị thất thu, chuyển đổi sang nuôi cá nước ngọt hoặc tôm càng xanh.

  • Trên đất canh tác trồng 3 vụ lúa/năm có thể bỏ một vụ lúa để thay thế bằng 1 vụ đậu nành hay vụ bắp non Xuân Hè.

  • Cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ đề nghị cần chuyển dịch đến là:

    1. 2 vụ lúa: Đông Xuân và Hè Thu hoặc 3 vụ lúa Đông Xuân + Hè Thu + Thu Đông (trong đó chỉ sản xuất Thu Đông ở những nơi có điều kiện thuận lợi).

b. 2 vụ lúa + 1 vụ màu: lúa Đông Xuân + màu Xuân Hè + lúa Hè Thu

c. 1 vụ lúa + 2 vụ màu: Đậu nành Đông Xuân + đậu xanh Hè Thu + lúa Mùa

d. 1 vụ lúa + 1 vụ màu: Lúa Đông Xuân + đay Hè Thu hoặc rau, đậu Đông Xuân + lúa Mùa.

e. 1 vụ lúa + 1 vụ thủy sản: Lúa mùa + cá hoặc tôm càng xanh.

2.2. Vùng Tây sông Hậu

  • Bên cạnh cây lúa là chủ lực cần hướng đến phát triển các loại cây trồng khác như: Bắp, đậu nành, mía.

  • Cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ đề nghị cần chuyển dịch đến là:

a. 2 vụ lúa: lúa Đông Xuân + lúa Hè Thu hoặc 3 vụ lúa Đông Xuân + Hè Thu + Thu Đông (trong đó chỉ sản xuất Thu Đông ở những nơi có điều kiện thuận lợi) hoặc lúa Hè Thu + Mùa.

b. 1 vụ lúa mùa kết hợp nuôi cá trong ruộng.

c. 1 vụ lúa + 1 vụ màu: lúa Hè Thu + bắp hoặc đậu nành, đậu xanh.

d. Chuyên canh rau, đậu, bắp non.

2.3. Tứ giác Long Xuyên

  • Chuyển đổi 1 phần đất canh tác 3 vụ lúa sang đất trồng 2 vụ lúa kết hợp nuôi một vụ cá, tôm càng xanh.

  • Tăng cường việc trồng tràm trên những khu đất phèn nặng trồng lúa kém hiệu quả.

  • Cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ đề nghị cần chuyển dịch đến là:

a. 2 vụ lúa: lúa Đông Xuân + lúa Hè Thu hoặc 3 vụ lúa Đông Xuân + Hè Thu + Thu Đông (trong đó chỉ sản xuất Thu Đông ở những nơi có điều kiện thuận lợi).

b. 1 vụ lúa + 1 vụ thủy sản: lúa Hè Thu + tôm, cá.

c. 1 vụ lúa + 1 vụ màu: lúa Mùa + dưa hấu, khoai.

d. Chuyên màu

e. Chuyên mía, tràm, tràm kết hợp nuôi cá.

2.4. Vùng Đồng Tháp Mười

  • Giảm sản xuất lúa vụ 3 ở những nơi mà điều kiện sản xuất bấp bênh, hay bị mất trắng hàng năm, thay vào đó là nuôi cá hoặc tôm càng xanh.

  • Chuyển đất trồng lúa ở những nơi trũng, bị ảnh hưởng nặng của phèn, khó khăn nước tưới, trồng lúa hay chết và không đạt hiệu quả cao sang trồng khoai mỡ, dứa, đay.

  • Cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ đề nghị cần chuyển dịch đến là:

a. 2 vụ lúa + 1 vụ màu: lúa Đông Xuân + lúa Hè Thu + đậu nành Xuân Hè hoặc đậu phọng Đông Xuân + lúa Hè Thu + lúa Mùa hoặc 3 vụ lúa Đông Xuân + Hè Thu + Thu Đông (trong đó chỉ sản xuất Thu Đông ở những nơi có điều kiện thuận lợi).

b. Các loại cây công nghiệp ngắn ngày chuyên canh: mía, dứa.

c. Các loại cây lâm nghiệp: Tràm, tràm kết hợp nuôi cá.

2.5. Vùng ven biển Nam bộ

  • Tiểu vùng này có tập đoàn giống lúa mùa địa phương có phẩm chất gạo thơm, ngon, chất lượng cao được thị trường chấp nhận. Đây là địa bàn tốt để tập trung sản xuất các giống lúa Mùa đặc sản phục vụ cho thị trường nội địa cao cấp và xuất khẩu.

  • Đây cũng là vùng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi nước mặn nên chủ yếu canh tác một vụ lúa nhờ nước trời, một số nơi có điều kiện giữ nước tốt thì có thể canh tác 2 vụ lúa trong năm là Hè Thu và lúa Mùa được thay thế bằng các giống lúa trung, ngắn ngày.

  • Cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ đề nghị cần chuyển dịch đến là:

a. 1 vụ lúa Mùa bằng giống đặc sản hoặc giống trung mùa.

b. 2 vụ lúa: lúa Hè Thu + lúa Mùa.

c. 1 vụ lúa + 1 vụ màu trên đất giồng cát: lúa Mùa + rau; dưa hấu, đậu phọng.

d. 1 vụ lúa + 1 vụ tôm sú: lúa Mùa mùa mưa và tôm sú mùa khô.

e. Chuyên canh tôm

2.6. Vùng bán đảo Cà Mau

  • Vùng không bị ảnh hưởng lũ nhưng đất đai bị nhiễm mặn, mặn – phèn, ngập úng cục bộ, thiếu nguồn nước ngọt, có tiềm năng về thủy sản và rừng ngập mặn hơn là canh tác nông nghiệp.

  • Phát triển các giống lúa mùa địa phương, chất lượng gạo ngon.

  • Khai thác và nuôi trồng thủy sản, trồng và bảo vệ rừng ngập mặn.

  • Cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ đề nghị cần chuyển dịch đến là:

a. 1 vụ lúa Mùa + 1 vụ tôm sú: giống lúa Mùa đặc sản, giống trung mùa chất lượng cao + nuôi tôm sú vào mùa khô.

b. 1 vụ lúa Mùa: giống Mùa đặc sản, giống trung mùa chất lượng cao.

c. 2 vụ lúa: lúa Đông Xuân + lúa Hè Thu hoặc lúa Hè Thu + lúa Mùa.

d. Chuyên rau, đậu trên đất giồng cát.

e. Chuyên canh các loại cây gia vị.

f. Chuyên canh tôm, nuôi tôm trong mương vườn.

3. Giới thiệu một số mô hình chuyển đổi có hiệu quả tốt

Trong nhiều năm qua tại các tỉnh ĐBSCL hệ thống khuyến nông đã cố gắng xây dựng và phổ biến nhiều mô hình luân canh trên nền đất lúa có hiệu quả kinh tế cao như:



3.1. An Giang

  • Mô hình lúa – tôm càng

Ruộng trồng lúa được lên bờ bao giữ nước trồng 1 vụ lúa Đông Xuân, 1 vụ tôm đón lũ để tận dụng nguồn thức ăn sẵn có ngoài thiên nhiên là: Cá tạp, ốc, cua và tận dụng nguồn lao động trong mùa nông nhàn, mô hình 1 lúa + 1 tôm mang lại lợi nhuận trung bình 35 triệu đồng/ha.

  • Mô hình lúa - màu

Mô hình lúa - bắp lai được phổ biến ở các huyện Tân Châu, Chợ Mới, An Phú. Cơ cấu: bắp lai Đông Xuân - lúa Hè Thu

  • Mô hình lúa – màu – lúa

Mô hình lúa - bắp thu trái non - lúa: Tập trung ở các huyện Chợ Mới, Châu Phú.

Mô hình lúa - đậu nành - lúa: Lúa Đông Xuân - đậu nành Xuân Hè - lúa Thu Đông.



  • Mô hình chuyên màu

Tận dụng lợi thế một số vùng đất phù sa, bãi bồi, có kiểm soát lũ tốt (như huyện Chợ Mới) nông dân sản xuất màu liên tục 3 – 4 vụ/năm cung cấp nhiều sản phẩm đa dạng và phong phú cho thị trường nội địa cũng như xuất khẩu: Khoai cao, kiệu, bắp thu trái non, dưa leo, rau các loại... Trong đó nông dân thường áp dụng luân canh các cây màu sau:

- Mô hình khoai cao - bắp non - bắp non: Lợi nhuận 71 triệu đồng/ha.

- Mô hình kiệu - đậu nành - dưa hấu: Lợi nhuận 82 triệu đồng/ha.

- Mô hình đậu nành - bắp non - dưa hấu - bắp non: Lợi nhuận 50 triệu đồng/ha.



3.2. Bạc liêu

  • Mô hình lúa - màu

Đây là mô hình được nhiều địa phương cũng như nhiều bà con nông dân áp dụng, diện tích toàn tỉnh khoảng 2.000 ha rau màu, chủ yếu là: dưa hấu, bầu, bí, bắp lai,... Hiện nay mô hình canh tác lúa – dưa hấu là mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất trong địa bàn Tỉnh. (Lãi từ mô hình 2 lúa – 1 dưa hấu : 30.683.000 đ/ha.)

Ngành Nông nghiệp & PTNT đang khuyến cáo mở rộng diện tích mô hình này và đưa cây bắp lai thay thế cho dưa hấu khi thị trường tiêu thụ dưa hấu gặp khó khăn, trong khi đó thị trường cây bắp lai rất lớn. Hiện cây bắp nếp trên đất lúa đem lại hiệu quả kinh tế khá cao.

Đây là mô hình sản xuất vừa đạt được hiệu quả kinh tế khá cao vừa hạn chế sự thoái hóa của đất, kỹ thuật canh tác cũng không phức tạp. Sản phẩm làm ra đa dạng, đáp ứng theo nhu cầu của thị trường, người dân có thể chủ động thay đổi đối tượng canh tác khi nhu cầu thị trường biến động.

Cơ cấu 2 lúa – 1màu hoặc 1 lúa - 2 màu hiện nay có hiệu quả nhất là: (2 Lúa + 1 dưa hấu; hay 2 lúa – 1 bắp lai hoặc 1 vụ lúa – 1 dưa hấu + 1 bắp lai). Ngoài ra có thể phát triển cây đậu nành làm thức ăn gia súc khi có đầu ra sản phẩm.



  • Mô hình tôm + cua - lúa + cá

Năm 2004 diện tích tôm - lúa 19.651 ha. Mô hình phát triển mạnh nhất ở huyện Hồng Dân 13.191 ha và huyện Phước Long 5.050 ha. Năng suất tôm bình quân 200 - 300kg/ha/vụ, năng suất lúa bình quân 4,0 tấn/ha.

Lãi từ mô hình này 25 - 30 triệu/ha.

Nhìn chung mô hình này đạt hiệu quả trên cả 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường được các nhà khoa học khẳng định có tính bền vững về môi trường, nếu tuân thủ đúng qui trình kỹ thuật trong nuôi tôm và trồng lúa.

Tuy nhiên, đây là mô hình sản xuất khó thực hiện do yêu cầu điều kiện sinh thái của 2 loại cây trồng và vật nuôi hoàn toàn khác nhau và phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết. Thời gian qua có một số hộ thất bại khi sản xuất theo mô hình này chủ yếu là do bà con chưa nắm bắt và thực hiện đầy đủ kỹ thuật canh tác cần thiết cũng như chưa tuân thủ một cách nghiêm túc qui trình sản xuất đã được đề ra.

Thời gian gần đây có nhiều hộ đã thả xen thêm 1 vụ cá trong ruộng khi trồng lúa, thả thêm cua trong khi nuôi tôm bước đầu đã có một số thành công nhất định, tăng thêm thu nhập, cải tạo môi trường tốt hơn... có thể nói đây là 1 chiều hướng phát triển thuận lợi của mô hình trong thời gian tới.

3.3. Long An

Từ năm 2001 trở lại đây, tỉnh Long An mạnh dạn đầu tư vốn vào chuyển đổi cây trồng, vật nuôi với nhiều mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp 4 đến 10 lần so với cây lúa.



  • Mô hình nuôi cá rô xen canh với 2 vụ lúa

Lúa Đông Xuân + lúa Hè Thu + xen canh cá rô, lãi từ 50 đến 70 triệu đồng ha; có nơi đạt gần 100 triệu đồng/ha. Mỗi năm thả nuôi 2 đợt theo mùa vụ sản xuất lúa Đông Xuân và Hè Thu. Mô hình này rất thích hợp với vùng đất trũng thấp với nguồn nước ngọt dồi dào quanh năm khai thác từ sông.

  • Mô hình lúa Hè Thu + Đông Xuân + dưa hấu mùa nghịch

Hiệu quả rất cao, riêng năng suất dưa đạt gần 25 tấn/ha, lãi hơn 25 triệu đồng/ha.

  • Mô hình nuôi cá trong mùa lũ

Khai thác thức ăn theo dòng nước lũ đổ về chế biến cho cá ăn, giảm chi phí, cũng được phát triển mạnh với gần 1.000 ha mặt nước mỗi năm, lợi nhuận từ 40 đến 50 triệu đồng/ha, gấp 5 đến 7 lần so với trồng lúa.

  • Mô hình trồng bắp lai xen canh với 2 vụ lúa

Lúa Hè Thu + Đông Xuân sớm + bắp lai cũng được chú trọng phát triển với hơn 500 ha.

3.4. Một số mô hình chuyển đổi khác

  • Mô hình 2 lúa + một màu

Mô hình này nhằm đưa cây bắp, đậu nành, mè vào giữa 2 vụ lúa Đông Xuân (11 – 02 dl) – màu Xuân Hè (3 – 6 dl) – lúa Hè Thu (6 – 9 dl), việc đưa cây màu vào trong đất lúa nhằm phá thế độc canh cây lúa, cắt đi nguồn sâu bệnh hại lúa hiện diện liên tục trên đồng ruộng, đồng thời xác bã thực vật của cây màu là nguồn phân xanh bổ sung cho cây trồng, rễ cây họ đậu nành và có rễ cây cộng sinh có vi khuẩn cố định đạm từ khí trời bổ sung đạm cho đất.

- Thời vụ canh tác lúa Đông Xuân từ tháng 11 – 02 dl gieo sạ bằng các giống lúa ngắn ngày cho năng suất và phẩm chất gạo tốt như: IR 64, OM 3536.

- Vụ màu (bắp, đậu nành, mè) được trồng từ tháng 02 – 6 dl tùy vào điều kiện đất đai có thể làm đất hoặc không làm đất. Đối với đất nhiều sét hoặc dẽ chặt thì phải cày bừa cho đất tơi xốp trước khi gieo còn đất thịt nhẹ, phù sa có thể không làm đất.

* Về giống: Bắp có giống (V 991, DK 888, LVN 10). Đậu nành có giống MTĐ 176, MTĐ 45 – 3 . Mè có giống (V6, mè đen, mè trắng).

- Vụ lúa Hè Thu bắt đầu từ tháng 6 – tháng 9dl gieo sạ với các giống ngắn ngày OM 2517, OM 2513, OM 2518, OM 4498,...

Mô hình 2 vụ lúa - 1 vụ màu cho thu nhập từ 30 – 35 triệu đồng/ha và lãi từ mô hình này từ 12 – 15 triệu đồng/ha.



  • Mô hình lúa – cá

Mô hình này nhằm đưa cá vào nuôi xen trên ruộng lúa để tăng thu nhập ngoài 2 vụ lúa chính là Đông Xuân tháng 11 – 02 dl và Hè Thu tháng 3 – 6 dl.

- Các loại cá thích hợp trên ruộng lúa là mè vinh, rô phi, chép, mè trắng, trôi, sặc rằn, cá rô, thát lát, cá lóc. Hoặc có thể phối hợp 40% mè vinh, 20% rô phi, 15% cá chép, 10% mè trắng, 10% sặc rằn, 5% cá hường.

- Thời vụ: Có thể thả cá từ tháng 3 – 5dl tùy vào việc chuẩn bị đất và sản xuất lúa Hè Thu. Khi sạ lúa khoảng 15 – 20 ngày có thể thả cá.

Mô hình này cho thu nhập từ 40 – 45 triệu đồng/ha và lãi từ mô hình này từ 20 – 25 triệu đồng/ha.



  • Mô hình tôm sú-lúa

Mô hình này tận dụng sinh thái tự nhiên của vùng nhiễm mặn, không chủ động được nước vào mùa khô, có nước ngọt trong mùa mưa (nước trời), khắc phục tình trạng nuôi tôm liên tục trong năm (dễ phát sinh dịch bệnh).

Về thời vụ nuôi tôm sú và trồng lúa như sau: Nuôi tôm sú từ tháng 1 – tháng 8 dl, trồng lúa từ tháng 9 – 01dl năm sau.

Mô hình này cho thu nhập từ 45 - 55 triệu đồng/ha và lãi trung bình từ mô hình này từ 25 – 30 triệu đồng/ha.


  • Mô hình lúa-rau

Mô hình này cũng nhằm phá thế độc canh cây lúa và tăng thu nhập trên 1 đơn vị diện tích. Vẫn làm vụ lúa Đông Xuân 11 – 02 dl, vụ Xuân Hè 2 – 4 dl trồng dưa hấu, rau các loại và trồng lại vụ lúa Hè Thu 5 – 8 dl. Sử dụng các giống như sau:

- Dưa hấu: Sugar Baby, Hồng Lương, Xuân Lan, Hắc Mỹ Nhân,...

- Cà chua: Red Crown 250, VL 2100, IN 52, 607, 609.

- Dưa leo: Mummy 331, 756, Mỹ trắng, Mỹ xanh,...

- Bí đỏ: Vàm răng,...

Mô hình này cho thu nhập từ 35 – 70 triệu đồng/ha lãi 15 – 40 triệu đồng/ha.



Phần thứ ba:

GIỚI THIỆU ĐẶC TÍNH MỘT SỐ GIỐNG LÚA CHỦ LỰC VÀ TRIỂN VỌNG HIỆN NAY
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG



1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương