Amiăng trắng chrysotile asbestos / III


Tại sao đề cập đến amiăng là một chất gây ung thư lại rất quan trọng khi có rất nhiều các chất gây ung thư khác có thể thấy trong môi trường?



tải về 0.55 Mb.
trang2/5
Chuyển đổi dữ liệu14.08.2016
Kích0.55 Mb.
1   2   3   4   5

Tại sao đề cập đến amiăng là một chất gây ung thư lại rất quan trọng khi có rất nhiều các chất gây ung thư khác có thể thấy trong môi trường?
Một số ung thư do các yếu tố môi trường được tin là có nhiều chất gây ung thư. Mặc dù các ung thư khác cũng có các nguyên nhân là chất gây ung thư đơn lẻ có thể xác định được như thuốc lá và amiăng, và phơi nhiễm với chúng có thể phòng tránh được. (Chú ý: Đây không phải là trường hợp đối với nhiều tác nhân khác được Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế [IARC] phân loại là có trong Nhóm 1, chất gây ung thư cho người, và nhiều trong số này có gánh nặng bệnh tật tương tự.1)
Một trong những lý do cho tầm quan trọng này là các nước có hành động về amiăng rất sớm bởi vì thời gian ủ bệnh dài bất thường từ khi phơi nhiễm với sự tiến triển ung thư trung biểu mô, thường là kéo dài đến 40 năm. Vì lý do này, gánh nặng bệnh liên quan đến amiăng sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian hiện nay, thậm chí ở các nước đã cấm sử dụng amiăng nhiều năm trước đây.
Tất cả các dạng amiăng đều gây ung thư ở người (kể cả amiăng trắng là dạng phổ biến chính của amiăng vẫn còn đang được sản xuất và sử dụng), và không có ngưỡng nào được xác định cho các nguy cơ gây ung thu. Đây là kết luận của WHO và IARC trong một loạt những đánh giá quốc tế có căn cứ đích xác được

Có bằng chứng khoa học rõ ràng rằng amiăng gây ung thư và các bệnh hô hấp mãn tính cho con người


group 101group 107

freeform 1131 Chi tiết về chất gây ung thư Loại 1 của IARC, xem http://monographs.iarc.fr/ENG/Classification/ ClassificationsGroupOrder.pdf.

group 114thực hiện trong một thời gian trên 15 năm, và đánh giá gần đây nhất đã được IARC công bố năm 2012. Các kết luận này phản ánh sự đồng thuận quốc tế của các chuyên gia khoa học được WHO triệu tập để đánh giá các tác động đến sức khỏe của amiăng.
Ngoài ra, người ta cũng đã thấy rằng đồng phơi nhiễm với khói thuốc lá và sợi amiăng sẽ làm gia tăng đáng kể nguy cơ ung thư phổi, và tác động ít nhất là mang tính cộng thêm, có nghĩa là hút thuốc lá càng nhiều thì nguy cơ càng lớn.
group 121Chúng ta có thể chắc chắn là những đánh giá khoa học về amiăng của WHO và IARC là hoàn toàn độc lập với những ảnh hưởng bên ngoài không?
Có. Trong mọi trường hợp, các biện pháp đã được thực hiện để đảm bảo rằng những xung đột lợi ích tiềm năng được xác định và giải quyết, rằng những đánh giá là cực kỳ nghiêm túc và độc lập với quan điểm của chính phủ, các định chế quốc gia và các nhóm lợi ích đặc biệt, và rằng các đánh giá xem xét những quan điểm từ tất cả các vùng trên thế giới và tùy thuộc vào việc bình duyệt quốc tế rộng rãi.
group 127Những hành động nào đã được các nước thực hiện ở cấp quốc gia?
Nhiều nước đã ra luật để cấm sử dụng amiăng với trên 50 Quốc gia Thành viên WHO hiện nay (cuối 2013) đã thực hiện để bảo vệ và tăng cường y tế công cộng.2 Điển hình là quyết định đã được thực hiện sau khi đã tham vấn với các chính phủ, xem xét những lợi ích của ban ngành nhưng tránh sự ưu thế quá mức trong việc đưa ra quyết định cuối cùng. Khi xem xét việc thực hiện hành động pháp lý chống lại việc sử dụng amiăng, cần phải xem xét nhiều vấn đề chi phí và lợi ích, kể cả các chi phí cung cấp dịch vụ y tế và những vấn đề mất năng suất của lực lượng lao động do sức khỏe yếu kém trường diễn, ngoài những xem xét về kinh tế và thương mại quy ước.

Những hành động nào đã được các nước thực hiện hoặc đang được đề xuất ở cấp độ quốc tế?

Công ước Basel về Kiểm soát Vận chuyển xuyên biên giới các Chất thải Nguy hại và việc Thải bỏ chúng có hiệu lực năm 1992 và có 181 quốc gia là Thành viên, nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường chống lại các tác động không mong muốn của chất thải nguy hại. Amiăng (bụi và sợi) được liệt kê là loại chất thải được kiểm soát trong Công ước. Các Thành viên của Công ước được yêu cầu cấm hoặc không cho phép xuất khẩu chất thải này cho các Thành viên đã cấm nhập khẩu chất này theo Công ước.



freeform 1352 Các nước này bao gồm Algeria, Argentina, Úc, Bahrain, Brunei Darussalam, Chile, Egypt, 28 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu, Gabon, Honduras, Iceland, Israel, Nhật, Jordan, Kuwait, Mozambique, Na-Uy, Oman, Qatar, Hàn Quốc, Saudi Arabia, Serbia, Seychelles, Nam Phi, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ và Uruguay. Amiăng cũng bị cấm ở 2 bang của Brazil, Rio de Janeiro và Rio Grande do Sul.

Gần đây hơn, đa số trong 154 nước là Thành viên của Công ước Rotterdam về Quy trình cho phép có báo trước đối với các Hóa chất Độc hại và Thuốc trừ sâu trong Thương mại Quốc tế (có hiệu lực năm 2004) đã thể hiện một mong muốn được thấy amiăng trắng được đưa vào trong Phụ lục 3 của Công ước. Điều này có nghĩa là amiăng trắng sẽ trở thành đối tượng của quy trình mà một quyết định có đầy đủ thông tin của một quốc gia sẽ cần phải có trước khi đồng ý hoặc không đồng ý nhập khẩu chất đó trong tương lai. Tuy nhiên cho đến nay việc liệt kê amiăng trắng đã bị một số lượng nhỏ các nước ngăn chặn, chủ yếu nhưng không phải hoàn toàn là các nước vẫn có lợi ích trong thương mại và sử dụng amiăng trắng và các sản phẩm có chứa amiăng trắng.





group 136group 142Có thật là amiăng trắng ít có hại hơn các loại amiăng khác và vì thế không cần phụ thuộc vào các biện pháp kiểm soát tương tự?
Bằng chứng khoa học là rõ ràng. Kết luận chắc chắn từ các đánh giá của WHO và IARC là amiăng trắng gây ung thư phổi, thanh quản và buồng trứng, ung thư trung biểu mô và bệnh bụi phổi amiăng, cho dù nó có ít độc hại hơn các loại amiăng amphibole trong việc gây ra ung thư hay không. Việc xác nhận về các đặc tính hóa lý khác nhau, vấn đề về liệu hay không các nghiên cứu dịch tễ học trong lịch sử có thể đề cập đến amiăng trắng bị lẫn/nhiễm với các loại amiăng amphibole, và việc loại amiăng amphibole có mặt một cách vật lý trong xi măng có mật độ cao hiện đại (vào lúc sản xuất) cũng không thay đổi được kết quả này.
Một quan tâm chính là thậm chí việc sử dụng được quản lý một cách phù hợp, các sản phẩm cho xây dựng có chứa amiăng trắng (v.d. tấm lợp mái, ống dẫn nước) bị hư hại và giải phóng ra sợi amiăng vào trong môi trường trong quá trình bảo dưỡng, phá dỡ nhà và vứt bỏ chất thải xây dựng, cũng như hậu quả của các thảm họa thiên nhiên. Việc phơi nhiễm như thế có thể diễn ra thời gian nào đó sau này chứ không phải lúc lắp đặt (được kiểm soát) ban đầu.




Nguy cơ này có thể hoàn toàn được ngăn chặn bằng việc ngừng sử dụng những sản phẩm như vậy. Thông tin về các nguyên vật liệu và sản phẩm thay thế có thể được sử dụng an toàn đều có từ các tổ chức cấp quốc gia, khu vực và quốc tế.

Nghiên cứu hiện tại hoặc tương lai về độc chất của amiăng trắng có thể thay đổi quan điểm hiện nay của WHO và IARC về việc gây ra ung thư không?
Hoàn toàn không. Quan điểm chắc chắn của WHO và IARC, dựa trên những đánh giá lặp lại về các bằng chứng khoa học rằng amiăng trắng gây ung thư phổi, thanh quản và buồng trứng, ung thư trung biểu mô và bệnh bụi phổi amiăng, và ngừng sử dụng tất cả các dạng amiăng, kể cả amiăng trắng, để ngăn ngừa phơi nhiễm với amiăng cần được công nhận là cách thức hiệu quả nhất để loại trừ các bệnh liên quan đến amiăng. Mặc dù khả năng gây ung thư của amiăng trắng đã được xác định rõ ràng, chỉ có một số nghiên cứu có đề cập tới phụ nữ. Cũng có những ung thư khác bị nghi ngờ là liên quan đến amiăng trắng, nhưng những nghiên cứu hiện tại vẫn chưa đề cập đầy đủ về chúng. Vì vậy, hiện nay liên tục có nhu cầu về những nghiên cứu tiếp theo để điều tra những nguy cơ của phơi nhiễm với amiăng trắng đối với các loại ung thư bổ sung khác, đặc biệt là những ung thư đặc thù đối với phụ nữ.

Kết luận chắc chắn từ đánh giá của WHO và IARC là amiăng trắng gây ung thư phổi, thanh quản và buồng trứng, ung thư trung biểu mô và bệnh bụi phổi amiăng

group 151group 157Có sẵn thông tin gì về các sản phẩm thay thế, đặc biệt là nguyên vật liệu xây dựng, khi có khẳng định là các chất sợi thay thế hiện đại cho amiăng trắng bản thân chúng là độc hại hoặc tính độc hại chưa xác định được?
Rất nhiều chính phủ các quốc gia, các cơ quan khu vực và các tổ chức quốc tế đã xác định các lựa chọn và chất thay thế đối với sử dụng amiăng, và các đánh giá về sức khỏe con người đối với các nguyên vật liệu thay thế cũng đã được công bố. Ví dụ, một hội thảo đã được WHO/ IARC tổ chức năm 2005, và có những ấn phẩm của chính phủ Anh Quốc, Ủy ban Châu Âu và Văn phòng khu vực châu Âu của WHO. Các đánh giá về tính độc hại với sức khỏe con người của các nguyên vật liệu thay thế amiăng trắng đã tập trung vào các loại lựa chọn nguyên vật liệu sợi do những nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến việc hít vào các sợi. Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng đối với một số tác dụng, amiăng trắng có thể được thay thế bằng vật liệu không sợi – ví dụ, polyvinyl chloride (uPVC) không dẻo hóa và thép tấm.

group 164Liệu thiếu báo cáo các ca ung thư trung biểu mô ở một quốc gia có cho thấy rằng không có gánh nặng bệnh tật đáng kể do amiăng gây ra và vì vậy không có lý do phải hành động do ung thư trung biểu mô là một chỉ điểm cụ thể về việc phơi nhiễm amiăng?
Không. Phát hiện các ca ung thư trung biểu mô và việc đo lường chính xác số lượng các ca cần có các hệ thống giám sát mang tính hệ thống ở cấp quốc gia, và các hệ thống này thường không có. Cũng cần ghi nhớ rằng giai đoạn tiềm tàng từ khi phơi nhiễm với amiăng và sự phát triển ung thư trung biểu mô có thể kéo dài tới 40 năm hoặc hơn, và vì thế những hệ thống như vậy cần phải tồn tại bền vững.
Amiăng có khả năng gây ung thư phổi hơn là ung thư trung biểu mô (tỷ lệ nguy cơ ước tính 6:1), và khả năng thì lớn hơn ở những cá nhân hút thuốc lá. Ung thư phổi thì phổ biến hơn nhiều so với ung thư trung biểu mô và là đa yếu tố về nguồn gốc. Một tiền sử phơi nhiễm với amiăng (và điều này có thể bao gồm

cả các môi trường không làm việc, xem ở dưới) trong nhiều năm trước đây có thể dễ bị bỏ qua. Việc hiện nay không có bằng chứng ở cấp quốc gia không phải là bằng chứng không có, và các bài học kinh nghiệm của các nước khác với các dịch ung thư trung biểu mô lớn vẫn đang xảy ra, thậm chí nhiều năm sau việc phơi nhiễm rộng rãi đã bị ngăn chặn, cũng cần phải được xem xét.



Liệu phơi nhiễm amiăng chỉ là một vấn đề nghề nghiệp, không có hoặc có ít nguy cơ đối với quần thể nói chung không?
Không. Nhiều ca ung thư trung biểu mô đã được mô tả với vợ và con của công nhân amiăng là kết quả của phơi nhiễm gia đình (ít nhất 376 ca), ở các

nhân viên văn phòng trong ngành công nghiệp amiăng và ở các cá nhân sống gần các mỏ amiăng, vì bị ô nhiễm không khí; bệnh bụi phổi amiăng cũng được báo cáo ở vợ và con cái công nhân amiăng. Các ca ung thư trung biểu mô đã được mô tả ở các cá nhân bị phơi nhiễm với amiăng xảy ra trong tự nhiên hoặc các khoáng chất giống amiăng trong đất ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Síp, Corsica, Sicily, New Caledonia, tỉnh Vân Nam – Trung Quốc và California. Mặc dù nhóm cuối cùng sẽ không được các biện pháp kiểm soát bảo vệ về sản xuất và sử dụng amiăng, các nhóm khác có thể được bảo vệ.


Các loại phơi nhiễm môi trường khác cũng xảy ra. Các báo cáo từ Úc và Anh Quốc đã xác định những nồng độ gia tăng của sợi amiăng trong không khí lân cận ở những điểm giao cắt giao thông bận rộn từ các sản phẩm chịu ma sát của xe cộ. Những phơi nhiễm phi nghề nghiệp gia tăng từ việc cải tạo sửa chữa nhà cửa và các hoạt động bảo dưỡng xe cộ. Ngoài những phơi nhiễm ngề nghiệp của các công nhân xây dựng (vì các biện pháp để kiểm soát phơi nhiễm amiăng khó được triển khai với lực lượng lao động lớn, phân tán có thể bao gồm nhiều người lao động phi chính thức), cũng có khả năng có phơi nhiễm phi nghề nghiệp với chất thải xây dựng có chứa amiăng nếu chất thải không được bảo quản và vứt bỏ một cách đúng đắn. Điều này bao gồm cả tiềm năng chất thải xây dựng có chứa amiăng được quét dọn và tái sử dụng ở các khu định cư phi chính thức.


Mối quan tâm đối với các nhà hoạch định chính sách ngày nay là ít hơn đối với việc phơi nhiễm nghề nghiệp trong khai mỏ và các ngành sản xuất các sản phẩm amiăng và nhiều hơn về việc sử dụng các nguyên vật liệu có chứa amiăng trong ngành công nghiệp xây dựng. Những quan tâm tới việc phơi nhiễm nghề nghiệp trong các hoạt động xây dựng và phơi nhiễm không chủ ý của quần thể lớn hơn từ các nguyên vật liệu xây dựng bị hư hỏng (v.d. tấm lợp mái lượn sóng amiăng bị vỡ) và việc vất bỏ chất thải xây dựng không phù hợp. Việc sử dụng các vật liệu xây dựng có chứa amiăng ở các cộng đồng nghèo nhất, đưa gia đình đến gần hơn với nguồn phơi nhiễm sợi amiăng trắng vẫn là một quan tâm đặc biệt.

Có khả năng phơi nhiễm phi nghề nghiệp với chất thải xây dựng có chứa amiăng








Thông tin bổ sung


freeform 175Các ấn phẩm khác của WHO về amiăng


Tiêu đề

Mô tả

Website

Phác thảo Phát triển các Chương trình Quốc gia về Loại trừ các Bệnh liên quan đến Amiăng. ILO và WHO; 2007

Tài liệu này nhằm trợ giúp các nước thiết lập các chương trình quốc gia để Loại bỏ các Bệnh liên quan đến Amiăng. Nó cũng đề cập đến những nỗ lực của các quốc gia để phòng ngừa các bệnh liên quan đến amiăng do phơi nhiễm với các dạng khác nhau của amiăng đã có và kết quả của việc sử dụng amiăng trong quá khứ. Có phiên bản bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Ả Rập và Trung Quốc.

http://www.who.int/occupational_ health/publications/elimasbestos/ en/, đã truy cập 11 /3 / 2014

Amiăng – Tính nguy hại và các thực hành an toàn để dọn sạch sau động đất. WHO; 2008

Tài liệu này cung cấp hướng dẫn về cách kiểm soát các nguy cơ liên quan đến amiăng trong khi dọn dẹp và vứt bỏ chất thải có chứa amiăng từ những tòa nhà bị hư hại và phá hủy sau động đất hoặc thảm họa tự nhiên khác.

http://www.who.int/hac/crises/chn/

asbestos/en/, đã truy cập 11 /3 / 2014




freeform 176Các đánh giá được công bố về các vật liệu thay thế


Tiêu đề

Mô tả

Website

Rà soát sản phẩm xây dựng thay thế cho amiăng của cố vấn tạm thời WHO. Trong: Các chương trình Quốc gia về Loại bỏ các Bệnh liên quan đến Amiăng: Rà soát và Đánh giá. Văn phòng WHO khu vực châu Âu; 2012: Phụ lục 4

Một rà soát về tính sẵn có và an toàn của các vật liệu thay thế amiăng, được cố vấn tạm thời WHO chuẩn bị làm tài liệu nền cho một cuộc họp về kiểm soát amiăng ở Khu vực châu Âu của WHO. Phiên bản có bằng tiếng Anh và Nga.

http://www.euro.who.int/en/health-topics/environment-and-health/occupational-health/ publications/2012/

national-programmes-for- elimination-of-asbestos-related- diseases-review-and-assessment, đã truy cập 11 /3 / 2014



Ý kiến về amiăng trắng và dự kiến chất thay thế. Ủy ban Khoa học về độc tính, độc tính sinh thái và Môi trường (CSTEE), Ủy ban Châu Âu; 1998

Đánh giá các nguy cơ đối với sức khỏe con người do 3 loại sợi thay thế – sợi xen-lu-lô, sợi PVA và sợi Paramid – của một ủy ban chyên môn của Ủy ban Châu Âu.

http://ec.europa.eu/health/scientific_ committees/environmental_risks/ opinions/sctee/sct_out17_en.htm, đã truy cập 11 /3 / 2014

Harrison và cộng sự. So sánh nguy hại của Amiăng trắng và các chất thay thế: Quan điểm của châu Âu. Các Quan điểm về sức khỏe môi trường, 1999;107:607-611

Một đánh giá các vật liệu thay thế amiăng được chuẩn bị cho Ủy ban An toàn và Sức khỏe Anh quốc (London, UK) và sau đó được công bố trong tài liệu khoa học.

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/

articles/PMC1566482/, đã truy cập 11 /3 / 2014



Tóm tắt kỹ thuật các đánh giá về amiăng trắng của WHO


CHRYSOTILE ASBESTOS / 13


group 180Giới thiệu ................................................14

Sản xuất, sử dụng và phơi nhiễm amiăng trắng....15
Sản xuất . ................................................... 15
Sử dụng......................................................... 15
Phơi nhiễm phi nghề nghiệp ............................ 16
Phơi nhiễm nghề nghiệp ................................. 17

Tác động sức khỏe........................................20
Ung thư phổi ......................................... 20
Nghiên cứu động vật thí nghiệm ................. 20
Nghiên cứu trên người............................... 20
Kết luận của IARC về ung thư phổi ...... 24
Những nghiên cứu chính mới .............. 24
Ung thư trung biểu mô.................................... 26

Nghiên cứu động vật thí nghiệm ................. 26


Nghiên cứu trên người............................... 26
Kết luận của IARC về Ung thư trung biểu mô. 30
Những nghiên cứu mới............................... 30
Bệnh bụi phổi amiăng....................................... 31
Kết luận của IPCS .................................... 32
Gánh nặng bệnh tật toàn cầu............................. 33
Ung thư phổi .................................... 33
Ung thư trung biểu mô................................ 33
Bệnh bụi phổi amiăng................................... 33
Sợi thay thế amiăng trắng .............................. 34
Các khía cạnh về phương pháp luận............ 34
Đánh giá tính nguy hại ................................ 36
Tài lệu tham khảo ..................................... 40

Giới thiệu

Tóm tắt kỹ thuật về các tác động của amiăng trắng này tóm tắt lại những đánh giá có sơ sở gần đây nhất của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) và Chương trình Quốc tế về An toàn Hóa chất (IPCS) thực hiện. Các nghiên cứu chính được công bố sau những đánh giá này cũng được rà soát ngắn gọn. Mục đích của bản tóm tắt kỹ thuật này là giúp những nhà hoạch định chính sách trong việc đánh giá tầm quan trọng thực hiện công việc để ngăn ngừa những tác động ngược tới sức khỏe – ung thư và xơ hóa phổi – có liên quan đến phơi nhiễm với amiăng trắng.


WHO đã thực hiện nhiều đánh giá về tác động đối với sức khỏe liên quan tới phơi nhiễm với amiăng trắng trong vòng 20 năm qua (1, 2). Những đánh giá này đã kết luận rằng tất cả các dạng amiăng, kể cả amiăng trắng, đều gây ung thư cho con người, gây ung thư trung biểu mô và ung thư phổi, thanh quản và buồng trứng. Amiăng trắng cũng gây các bệnh về phổi không ác tính dẫn đến việc chức năng phổi giảm sút (bụi phổi amiăng). Nhiều nghiên cứu khoa học đã nói về mối liên hệ giữa phơi nhiễm trong gia đình và môi trường với amiăng và những ảnh hưởng không mong muốn đối với sức khỏe cũng đã được xác định, cùng với số lượng lớn những nghiên cứu ở các cơ sở nghề nghiệp.
Thông tin nhiều nhất trong đánh giá những tác động của phơi nhiễm với amiăng trắng ở người (1) là các nghiên cứu được thực hiện tại các mỏ amiăng trắng tại Quebec, Canada (cập nhật thuần tập gần đây nhất) (3), một mỏ amiăng trắng ở Balangero, Italy (4, 5), các thuần tập công nhân dệt may ở Nam Carolina (6) và Bắc Carolina, Hoa Kỳ (7), và 2 thuần tập các công nhân nhà máy amiăng ở Trung Quốc (8, 9). Gần đây hơn, những nghiên cứu về thợ mỏ amiăng trắng (10–12) và thợ dệt may amiăng trắng ở Trung Quốc (13–17) và 2 phân tích tổng hợp (18, 19) đã tiếp tục củng cố cơ sở dữ liệu. Tất cả các loại amiăng gây ra bệnh bụi phổi amiăng, ung thư trung biểu mô và ung thư phổi, thanh quản và buồng trứng (1, 2). Tài liệu này chú trọng vào ung thư phổi, ung thư trung biểu mô và bệnh bụi phổi amiăng vì những bệnh này đã là những mảng chính của nghiên cứu cho tới khá gần đây.

Có đủ bằng chứng ở người về chất gây ung thư của tất cả các dạng amiăng (amiăng trắng, crocidolite, amosite, tremolite, actinolite và anthophyllite). Amiăng gây ung thư trung biểu mô và ung thư phổi, thanh quản và buồng trứng.” (1)


Sản xuất, sử dụng và phơi nhiễm với amiăng trắng


Sản xuất
Amiăng trắng luôn là loại amiăng chính được khai thác ở mỏ; trong năm cao điểm sản xuất (1979), amiăng trắng chiếm hơn 90% tất cả amiăng được khai thác ở mỏ (20). Với một ngoại lệ là những số lượng nhỏ (khoảng 0.2 triệu tấn hàng năm, trong các năm 2007–2011) của amiăng amphibole được khai thác ở Ấn Độ, amiăng trắng hiện tại là loại amiăng duy nhất đang được khai thác. Sản xuất của thế giới năm 2012 được ước tính là 2 triệu tấn, nhà sản xuất chính là Liên bang Nga (1 triệu tấn), Trung Quốc (0.44 triệu tấn), Brazil (0.31 triệu tấn) và Kazakhstan (0.24 triệu tấn); sản xuất đã ngừng ở Canada, một nước đến tận năm 2011 vẫn là một trong những nước sản xuất chính. Mặc dù sản xuất trên thế giới đã giảm đáng kể từ cao điểm 5,3 triệu tấn năm 1979, sản xuất vẫn duy trì ổn định trong thời gian những năm 2000 (2 - 2,2 triệu tấn) (21–23).



1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương