Đa văn hóa và thay đỔi văn hóA



tải về 28.55 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích28.55 Kb.
ĐA VĂN HÓA VÀ THAY ĐỔI VĂN HÓA

Chúng ta cần xem xét 4 thay đổi cấu trúc cơ bản khác sẽ định hình nhu cầu cho các dịch vụ khách sạn trong thế kỷ 21: dân số tăng, số phụ nữ làm việc, thành phần gia đình và phân bổ thu nhập thay đổi.

Một thực tế hiện tại cho thấy mối quan hệ của những nhân tố này đối với dịch vụ khách sạn sẽ là gì. Một trong những yếu tố làm nên thành công của những nhà hàng thức ăn dân tộc là tính đa dạng phong phú châu Mỹ. (số lượng và phạm vi lựa chọn món ăn dân tộc đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, đặc biệt là ở những thị trường nhỏ hơn.)

Cùng với sự phong phú dân cư với các thành phần dân tộc khác nhau, thành phần lực lượng lao động cũng đang thay đổi. Chẳng hạn như những năm trước đây, phụ nữ là những đối thủ cạnh tranh của kinh doanh nhà hàng thì giờ chuyển sang khách hàng của nhà hàng. Một gia đình có cả vợ lẫn chồng đều làm việc tiếp cận cuộc sống khác nhau. Ví dụ như, những gia đình thường thấy dễ dàng hơn khi lên lịch cho những kỳ nghỉ ngắn hơn, thường xuyên hơn. Hơn nữa, nhiều trẻ em (cho dù ít hơn) có nghĩa là sự khác biệt trong những ý niệm dịch vụ du lịch sẽ thành công – và cũng giống với việc thu nhập nhiều hơn (hay ít hơn), những vấn đề này được thảo luận trong những phần sau.


SỰ ĐA DẠNG CỦA DÂN SỐ HOA KỲ. Theo những dự án dân số Mỹ, người Mỹ gốc Phi, Mỹ gốc Á, người Mỹ bản địa và Tây Ban Nha sẽ tạo nên phần lớn dân số Mỹ chỉ sau năm 2050 một thời gian ngắn. Chưa đầy một đời người nữa, người không phải gốc Tây Ban Nha từ đa số sẽ thành thiểu số. Sự thay đổi này trong cán cân thành phần dân tộc ở Bắc Mỹ đã diễn ra ở những bang còn lại như New Mexico và Hawaii, và ở nhiều thành phố lớn khắp nước Mỹ. Những bang lớn như California có hơn 200 ngôn ngữ được sử dụng sẽ chứng kiến sự tăng nhanh của người thiểu số trước năm 2020.

Dân số Mỹ với người Tây Ban Nha và gốc Phi sẽ tiếp tục tăng lên 13 và 16% trong tổng số. Dân số Tây Ban Nha sẽ tăng gấp ba từ 2000 đến 2050 do tỷ lệ sinh cao hơn và sự nhập cư cả bằng hình thức hợp pháp và bất hợp pháp.

Từ Hispanics thì tiện lợi nhưng nó che đi sự khác biệt lớn giữa các nhóm người. Hầu hết người Hispanic ở Mỹ đều là gốc Mehico (gần 60%), nhưng 2/3 sinh ra ở Mỹ. Cục Dân số cho biết khoảng 10% Hispanics có gốc Puerto Rica, hầu hết họ sinh ra ở Mỹ. Tất cả người Puerto Rica là công dân Mỹ. Chưa tới 5% gốc Cuba. Những người Mỹ Hispanics bao gồm cả số lượng lớn người từ các quốc gia Mỹ La tinh.1

Từ 2010 đến 2020, dân Mỹ gốc Phi sẽ tăng từ 40 triệu đến 45 triệu. Người Mỹ gốc Phi tiếp tục là nhóm người đông thứ hai ở Mỹ. Với tư cách là một nhóm người, giáo dục và thu nhập của họ tăng. Ngày nay, phần lớn người Mỹ gốc Phi sống ở miền Nam.2

Những người Mỹ gốc Á vượt 14,4 triệu vào năm 2010, tăng gần 100% so với năm 1990 là 7,3 triệu. Thu nhập gia đình trung bình năm 2008 là 66.103 USD, cao hơn nhiều thu nhập gia đình da trắng không phải Hispanics trung bình 48.201 USD.

Chúng ta sẽ trở lại thảo luận chủ đề về sự đa dạng trong phần sau ở lực lượng lao động khách sạn. Tại đây chúng ta lưu ý rằng sự thay đổi là với sự phổ biến thực phẩm của người thiểu số gần như phản ánh chắc chắn sự thay đổi trong nhu cầu dẫn đến việc tăng sự đa dạng ở nước Mỹ hiện tại. (Hầu hết các phiếu điều tra phản ánh thức ăn yêu thích nhất của người Mỹ là Trung Quốc, Ý, và Mehico, không có trật tự cụ thể nào). Một ví dụ khác về tác động của sự đa dạng là số hội nghị và khách ở khắp Bắc Mỹ đang nhắm vào những nhóm người Mỹ gốc Phi, lưu ý rằng có sự gia tăng những sự kiện được tài trợ bởi những người Mỹ gốc Phi. (Lễ hội âm nhạc ở New Orleans do tạp chí Essence tài trợ là một ví dụ). Xu hướng này chắc chắn tăng khi dân số tiếp tục theo xu hướng đa dạng và những công ty sẽ phải tìm cách để sản phẩm và dịch vụ thích ứng sở thích của những nhóm người khác nhau.

Chúng ta đã thảo luận sự đa dạng về dân tộc, nhưng đây không phải là cách duy nhất mà sự pha trộn dân số đang thay đổi hoặc sự đa dạng được thể hiện trong dân số chung. Độ tuổi tăng dần của các thế hệ bùng nổ dân số sẽ dẫn đến việc chúng ta có dân số già nhiều hơn. Sinh viên ngành nhân khẩu học nói về “tỉ lệ phụ thuộc” để thể hiện mối quan hệ giữa người ở những nhóm tuổi nhất định đang làm việc và những người ở độ tuổi khác chưa bắt đầu làm việc hoặc chưa nghỉ hưu. Tóm lại, người ta cho rằng độ tuổi của dân số tăng thì độ tuổi của lực lượng lao động cũng tăng.

Một dạng khác của sự đa dạng đã phát triển trong vòng hai thế hệ vừa qua khi sự có mặt của phụ nữ và những vai trò trong lực lượng lao động đã thay đổi, một chủ đề mà chúng ta nói tới ngay bây giờ.


PHỤ NỮ LÀM VIỆC. Những thay đổi trong quan điểm của chúng ta về phụ nữ và gia đình đã có tác động kinh tế đến công nghiệp khách sạn trong hơn 100 năm qua. Hình 2.1 cho thấy thay đổi trong việc làm của phụ nữ trong hơn 50 năm qua. Trong thời gian đầu của thế kỷ này, phụ nữ làm việc ở ngoài là một ngoại lệ. Cho đến khi bắt đầu Thế chiến II, gần ¼ phụ nữ trong lực lượng lao động – có nghĩa là họ vừa có công việc hoặc họ đang tìm 1 công việc. Thế chiến II cho thấy tỷ lệ này tăng đến gần 1/3 số dân là phụ nữ. Trong 5 năm tiếp, đến năm 1980 tỷ lệ phụ nữ đi làm tăng quá 50% dẫn đến một phần trăm lớn của những gia đình có 2 thu nhập. Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động sẽ tiếp tục tăng về lâu về dài. Hơn nữa, sự chia sẻ phụ nữ trong lực lượng lao động tiếp tục tăng.

Đây là một sự thay đổi thành phần lớn trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. nó đã dẫn đến những thay đổi đáng kể trong nhiều mặt của xã hội – dĩ nhiên có cả ngành công nghiệp khách sạn. Hơn nữa, chúng ta đã chuyển từ thời đại mà những bà mẹ đi làm việc là không bình thường đến thời đại mà một bà mẹ không bình thường là người không kiếm tiền. Ngày càng có nhiều phụ nữ chuyển vào các vị trí quản lý. Phụ nữ chiếm 51% nhân công quản lý và có tay nghề trong lực lượng lao động. Phụ nữ chiếm 47.8% các giám đốc quản lý trong dịch vụ ăn uống và 44.1% các giám đốc quản lý trong lĩnh vực lưu trú vào năm 2008.3 Dự đoán cho thấy phần trăm phụ nữ ở các vai trò quản lý sẽ tiếp tục tăng.

Có vẻ những con số thống kê mà chúng ta nêu ra thực sự khẳng định vai trò của phụ nữ trong công việc. Phụ nữ gia nhập vào và đi ra khỏi lực lượng lao động thường xuyên hơn đàn ông để thích nghi với những thay đổi cuộc sống, chẳng hạn như kết hôn và sinh con.

THÀNH PHẦN GIA ĐÌNH. Thành phần gia đình cũng thay đổi nhanh chóng. Chỉ vài năm trước, bộ phận gia đình lớn nhất ở Hoa Kỳ là gia đình có trẻ em dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, giờ đây gần 117.000 triệu gia đình ở Hoa Kỳ có hơn 35 triệu gia đình chỉ có 2 người (phần lớn nhất), sau đó là 26 triệu gia đình chỉ có 1 người. Cục thống kê dân số Mỹ cho biết số gia đình, phần trăm của tất cả gia đình đã giảm đáng kể từ năm 1970. Những gia đình càng trở nên nhỏ hơn. Những cặp vợ chồng có con dưới 18 tuổi sẽ tiếp tục giảm khi những đứa trẻ của thế hệ bùng nổ dân số lớn lên và rời khỏi nhà. 4 Một mặt đáng nói của những thay đổi dân số là những cặp vợ chồng không con – những tổ ấm trống và những người chọn sống không con – chi tiêu nhiều hơn bất kỳ gia đình nào khác. Họ tiêu nhiều vào việc ăn ngoài hơn so với việc họ đi chợ. Họ cũng là những người thèm đi du lịch.

Một thay đổi khác trong cấu trúc gia đình được minh họa bởi sự phát triển những gia đình những người độc thân (hoặc không lập gia đình). Con người đang trì hoãn hôn– những gia đình đơn thân đã tăng từ 17.1% năm 1970 đến hơn 22% năm 2008. Nhóm gia đình này sẽ tiếp tục tăng trong suốt thập kỷ này.5

Những thay đổi như vậy đang tác động đến những quyết định cuộc sống lớn cũng như những thói quen. Những người đàn ông độc thân thì trẻ hơn, trong khi đó những người phụ nữ sống một mình có xu hướng là những quá phụ già hơn thể hiện xu hướng vợ sống lâu hơn chồng. Những người đàn ông có thu nhập cao hơn và chi tiêu của họ lớn hơn phụ nữ. Hàng năm đàn ông chi tiêu gấp đôi tiền cho việc ăn ở ngoài hơn so với phụ nữ. Mặc dù họ cho thấy những xu hướng khác nhau, cả hai loại gia đình đơn thân này là những khách hàng tiềm năng tốt và khi thu nhập của phụ nữ tiếp tục tăng, hai loại gia đình này chắc chắn giống nhau nhiều hơn.

Tuy nhiên, những cha mẹ đơn thân là một nhóm có thu nhập tương đối thấp hơn. Chẳng hạn họ ăn ngoài ít hơn một người dân Bắc Mỹ trung bình. Họ ít có khả năng là khách của khách sạn vì ngân sách của họ không cho phép họ đi du lịch tự do như những nhóm khác.

PHÂN BỔ THU NHẬP THAY ĐỔI. Vào thập kỷ 1980, tầng lớp trung lưu giảm về số lượng, nhiều người ra khỏi tầng lớp này hơn là gia nhập vào tầng lớp này. Nhìn chung, “những người làm ra tiền” là những người có trình độ đại học, người về hưu và phụ nữ có công việc toàn thời gian. Thu nhập trung bình của phụ nữ đã tăng (nhưng vẫn chỉ 77% so với thu nhập đàn ông, thậm chí ít hơn con số này theo một số dự đoán). Điều này dẫn đến một sự thay đổi về phân bổ thu nhập.

Vào thập niên 1990, tầng lớp trung lưu nhiều hơn do sự tái cấu trúc. Trong khi những công nhân trí thức và những giám đốc quản lý trung lưu bị tác động mạnh nhất bởi những nỗ lực tăng tính hiệu quả ở nhiều công ty lớn. Tất cả những báo cáo cho thấy có một khoảng cách lớn giữa người giàu và người nghèo, người giàu càng giàu hơn, mặc dù điều này đã được kìm lại trong một chừng mực nào đó gần đây. Industry Practice Note 2.3 thảo luận vấn đề qui mô của tầng lớp trung lưu nhiều hơn.

Số thu nhập chưa thuế của một gia đình càng lớn, thì những thành viên của gia đình đó càng đi ăn ngoài thường xuyên hơn. Nhưng vì thành phần khách đáng kể ăn ngoài là hơn mức cần thiết là do những lịch trình …, nhiều người đã chuyển xuống nấc thang kinh tế đã không mất hoàn toàn đối với dịch vụ ăn uống. Tuy nhiên, trong ngành lưu trú và lữ hành, kết quả này ít thật hơn nhiều vì những cái này là hầu như những chi phí tự do. Mặc dù sự phát triển số lớn ở những gia đình có thu nhập thấp hơn được thảo luận trong Industry Practice Note 2.3 có thể cho thấy một số đang tăng của khách hàng ở những nhà hàng trung bình. Nó gần như là denote một nhóm mà ít có thể tham gia vào thị trường du lịch cao cấp. Việc nhận diện không phải tất cả những yếu tố tác động đến nhu cầu có thể cụ thể về con số như dữ liệu nhân khẩu mà chúng ta đã xem qua. Những kiểu hoạt động, sở thích và ý kiến khác nhau của con người thỉnh thoảng được gọi là psychographics (tạm dịch tâm lý nhân khẩu học) cũng tác động đến nhu cầu dịch vụ ăn uống.

Cũng nhớ rằng những gia đình ở các nhóm thu nhập cao hơn thường đại diện cho những gia đình có hai thu nhập cả vợ cả chồng đều đi làm. Những gia đình này sống với áp lực thời gian lớn, điều này lý giải sự phát triển nhanh doanh thu ở phần thức ăn ở ngoài và cả ở phần cao cấp, như một bến cảng là nơi khoảnh khắc vui vẻ thư giãn của những con người bận rộn này.

VHòa (Theo Introduction to Management in the Hospitality, Chapter 2: Forces affecting Growth and Change in the Hospitality Industry)



1


2


3


4


5



Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương