A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang5/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   47

13. Luật thủy sản (sửa đổi)


Sự cần thiết ban hành

- Bối cảnh, thực trạng quan hệ xã hội đòi hỏi phải sửa đổi Luật thuỷ sản 2003. Việt Nam là một trong các quốc gia thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương có tiềm năng khai thác thuỷ sản trên biển. Với bờ biển dài 3260 km, diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải 226.000 km vuông, diện tích vùng đặc quyền kinh tế hơn 1.000.000 km vuông, có khoảng 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, khoảng 1,7 triệu ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản. Vùng biển Việt Nam tiếp giáp và có nhiều vị trí chồng lấn với biển các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Ma-lai-xia, .... Hiện nay, Việt nam đang thực hiện Hiệp định hợp tác nghề cá Việt Nam Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ, tới đây sẽ đàm phán, phân định và ký kết hiệp định khai thác thuỷ sản với Thái Lan (vùng biển thuộc Vịnh Thái Lan) và các nước khác. Ngành Thuỷ sản vẫn còn gặp nhiều thách thức, đòi hỏi cần có sự tăng cường quản lý của nhà nước và có cơ chế, chính sách pháp luật đồng bộ và đủ mạnh để giải quyết để ứng phó với xu hướng suy giảm nghiêm trọng trên các thủy vực nội địa, vùng biển và ven biển; ô nhiễm môi trường biển; Sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất khẩu, cụ thể hơn là khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng được nhu cầu của khu vực chế biến xuất khẩu cả về số lượng cũng như chất lượng sản phẩm. Xu hướng bảo hộ thương mại, hàng rào kỹ thuật, kiểm dịch chặt chẽ và thường xuyên ban hành các tiêu chuẩn mới khắt khe hơn về dư lượng kháng sinh và an toàn vệ sinh thực phẩm là thách thức lớn đối với thuỷ sản Việt Nam.



Phạm vi điều chỉnh của Luật thuỷ sản 2003 chưa điều chỉnh các hoạt động thủy sản tại vùng biển ngoài vùng biển Việt Nam.

Một số khái niệm trong Luật thuỷ sản 2003 chưa rõ ràng, gây khó khăn cho quá trình quản lý Nhà nước về thủy sản và xây dựng các VBQPPL hướng dẫn thi thi hành luật như các khái niệm: tàu cá, khu neo đậu, tránh trú bão, mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản… Mặt khác, Luật thuỷ sản còn thiếu một số khái niệm quan trọng như: nuôi trồng thuỷ sản, khai thác xa bờ, khai thác gần bờ, khai thác nội đồng, bè cá...

Một số quy định tại Luật thuỷ sản 2003 mâu thuẫn, chồng chéo, không thống nhất với các luật khác liên quan mới được Quốc hội thông qua, cụ thể là: quy định về phân loại và thẩm quyền quản lý khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa có nhiều điểm chưa thống nhất với Luật Đa dạng sinh học; thẩm quyền quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuỷ sản trong Luật thuỷ sản không phù hợp với Luật An toàn thực phẩm; Thời hạn, thẩm quyền giao, cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản có nhiều điểm không thống nhất với Luật Đất đai; công tác quản lý ngành thuỷ sản bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn không còn phù hợp với Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.

Một số quy định của Luật thuỷ sản 2003 chưa đầy đủ hoặc chưa thực sự phù hợp với thực tiễn hoạt động thuỷ sản Việt Nam như:

+ Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản: các quy định về kiểm soát, bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản chưa đủ mạnh để bảo vệ môi trường sống tự nhiên của các loài thuỷ sản trong bối cảnh môi trường sống của thuỷ sản đang chịu sự tác động tiêu cực của các ngành khác như: thuỷ điện, du lịch, dầu khí, giao thông đường thuỷ,... Các quy định về chính sách bảo tồn, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản chưa rõ ràng về nội dung chính sách và thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong việc ban hành chính sách bảo tồn, bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

+ Khai thác thuỷ sản:

Khai thác thủy sản ven bờ: Luật thuỷ sản 2003 chưa thể hiện rõ chính sách của nhà nước trong việc hạn chế khai thác thủy sản ven vờ, giảm dần tàu cá khai thác thuỷ sản tại vùng biển ven bờ, khuyến khích khai thác thuỷ sản xa bờ.

Điều tra, nghiên cứu nguồn lợi thủy sản: Luật thủy sản 2003 chưa quy định cụ thể các nhóm chính sách, biện pháp điều tra, nghiên cứu nguồn lợi thuỷ sản.

Giấy phép khai thác thủy sản: Luật thuỷ sản 2003 chưa quy định việc cấp giấy phép khai thác thuỷ sản đối với trường hợp tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản không sử dụng tàu cá theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải có giấy phép khai thác thuỷ sản. Việc bổ sung này nhằm quản lý một số nghề khai thác không sử dụng tàu cá nhưng cần quản lý bằng giấy phép để quản lý nguồn lợi thủy sản.



+ Về Nuôi trồng thuỷ sản: Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản: Luật thủy sản quy mới chỉ quy định chung về nguyên tắc và thẩm quyền xây dựng quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản; chưa phân định rõ về thẩm quyền lập, xét duyệt và phê duyệt quy hoạch của các cơ quan; chưa quy định căn cứ, điều kiện và thẩm quyền điều chỉnh, thay đổi, bổ sung quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Điều kiện nuôi trồng thủy sản. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản. Luật thủy sản chưa quy định về quyền được hỗ trợ rủi ro trong nuôi trồng thuỷ sản khi bị thiên tai dịch bệnh; chưa quy định nghĩa vụ bảo đảm sản phẩm nuôi trồng thủy sản phải được truy xuất nguồn gốc theo quy định của pháp luật và tuân thủ quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kiểm tra, kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong nuôi trồng thuỷ sản. Vùng nuôi trồng thủy sản tập trung: Luật thuỷ sản 2003 chưa khuyến khích xã hội hoá việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt.

+ Về tàu cá và cơ sở dịch vụ hoạt động thuỷ sản: Phát triển tàu cá: Luật thủy sản 2003 chỉ mới quy định chung về phát triển tàu cá, mà chưa quy định cụ thể ưu tiên phát triển tàu cá xa bờ và có biện pháp hạn chế phát triển tàu cá gần bờ; chưa quy định rõ việc Chính phủ có chính sách phát triển tàu cá phù hợp với định hướng khai thác thuỷ sản xa bờ và định hướng giảm dần số lượng tàu cá khai thác thủy sản ven bờ; chưa có chính sách phát triển các cơ sở đóng mới, cải hoán tàu cá có tính chất công nghiệp, có năng lực đóng mới, cải hoán tàu cá có công suất lớn. Đóng mới, cải hoán tàu cá: Luật thủy sản chưa phân cấp mạnh cho địa phương trong việc cho phép và phê duyệt hồ sơ thiết kế đóng mới, cải hoán tàu cá. Đăng kiểm tàu cá: Luật thủy sản quy định hai tiêu chí (mét nước và công xuất) để xác định loại tàu cá phải đăng kiểm và phân định thẩm quyền đăng kiểm tàu cá giữa cơ quan TW và địa phương vừa chưa chuẩn xác vừa không đồng nhất gây bất cập cho công tác quản lý, gây ra những phức tạp trong công tác quản lý thống kê. Các tiêu chí này không đồng nhất với các thống kê nghề cá của FAO và các nước trong khu vực.

Về chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thuỷ sản: Luật thuỷ sản năm 2003 mới quy định một điều về chợ thủy sản đầu mối. Quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của chợ thuỷ sản đầu mối chưa được quan tâm, ban hành. Các quy định về nhập khẩu, xuất khẩu hàng hóa thủy sản còn mang tính định khung, chưa quy định cụ thể việc nhập khẩu, xuất khẩu nguyên liệu thủy sản.

Một số vấn đề thực tiễn quản lý ngành thuỷ sản cần được bổ sung, điều chỉnh trong luật:

+ Vấn đề xây dựng lực lượng kiểm ngư Việt Nam. Cần thiết phải quy định bổ sung một chương riêng về Kiểm ngư Việt Nam tại dự án Luật thuỷ sản (sửa đổi) để thiết lập cơ sở pháp lý cao nhất cho tổ chức và hoạt động của Kiểm ngư Việt Nam. Lực lượng Kiểm ngư với thẩm quyền và trang thiết bị đủ mạnh và có cơ chế phối hợp với các lực lượng khác sẽ góp phần tăng cường sự hiện diện của các lực lượng chức năng Việt Nam trên biển; góp phần bảo đảm an ninh, trật tự trên biển; tương đồng với mô hình tổ chức, hoạt động của lực lượng kiểm soát, bảo vệ pháp luật thuỷ sản trên biển của nhiều nước có vùng biển tiếp giáp hoặc chồng lấn với Việt Nam. Mặt khác, có lực lượng Kiểm ngư hoạt động trên các vùng nước sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả Luật biển Việt Nam sẽ được Quốc hội thông qua trong thời gian tới.

+ Vấn đề mối liên kết giữa các nhà sản xuất, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản: cần thiết phải quy định trong Luật thuỷ sản sửa đổi một số nội dung về mối liên kết giữa các nhà nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản. Thị trường xuất khẩu thủy sản ngày càng mở rộng, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam chịu nhiều cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các thị trường nhập khẩu thủy sản đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt về truy xuất nguồn gốc thủy sản, kiểm soát chất lượng thủy sản xuất khẩu.

+ Vấn đề truy xuất nguồn gốc thuỷ sản: Thủy sản là ngành sản xuất sản phẩm tiêu dùng có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người. Theo yêu cầu của thị trường các nước nhập khẩu và quy định của Luật an toàn thực phẩm việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản là xu hướng bắt buộc. Do vậy, nhằm tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho việc truy xuất nguồn gốc thủy sản và bảo đảm chất lượng an toàn thực phẩm thủy sản cần thiết phải quy định cụ thể trong Dự án Luật thuỷ sản sửa đổi các quy định pháp luật để thực hiện nội dung này.

+ Vấn đề xây dựng hệ thống thông tin quản lý tàu cá: Hiện nay, việc quản lý tàu cá đang hoạt động trên biển tại Việt nam chủ yếu dựa theo phương pháp truyền thống, thông tin về tình hình hoạt động của tàu trên biển với cơ quan quản lý trên bờ còn hạn chế, gây nhiều khó khăn trong việc quản lý tàu cá. Để tạo cơ sở pháp lý khắc phục thực trạng này, dự án Luật Thủy sản sửa đổi cần thiết phải có một số quy định về hệ thống thông tin quản lý tàu cá nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư, xây dựng hệ thống, phương pháp quản lý tàu cá hiện đại, dựa trên những thành tự khoa học công nghệ thông tin, qua đó quản lý tốt số lượng tàu cá Việt Nam hoạt động trên biển, đảm bảo an toàn cho người và tàu cá trên biển. Định hướng này đã được Malaixia, Đài Loan, Hàn Quốc, ... thực hiện có hiệu quả.

Thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý ngành thuỷ sản:

+ Nghị quyết số 26 NQ/TƯ ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã nhấn mạnh mục tiêu “Triển khai có kết quả chương trình khai thác hải sản trong chiến lược phát triển kinh tế biển, gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Cơ cấu lại lực lượng đánh bắt gần bờ, đồng thời có chính sách hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của ngư dân ven biển. Phát triển nhanh lực lượng khai thác xa bờ theo hướng đầu tư trang bị phương tiện và công nghệ hiện đại, phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá, khu neo đậu tàu thuyền theo quy hoạch, hệ thống thông tin liên lạc, tìm kiếm cứu nạn. Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản đa dạng, theo quy hoạch, phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng nuôi, trồng, trước hết là thuỷ lợi. Áp dụng rộng rãi các quy trình công nghệ sinh sản nhân tạo. Xây dựng hệ thống thú y thuỷ sản. Kiểm soát chặt chẽ chất lượng giống, thức ăn, môi trường nuôi. Hiện đại hoá các cơ sở chế biến, bảo đảm các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm”.

+ Chiến lược phát triển 10 năm ngành thủy sản (2011-2020) được Thủ tướng thông qua tại Quyết định 1690/QĐ-TTg xác định: “Phát triển thủy sản thành một ngành sản xuất hàng hóa, có thương hiệu uy tín, có khả năng cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở phát huy lợi thế của một ngành sản xuất – khai thác tài nguyên tái tạo, lợi thế của nghề cá nhiệt đới, chuyển nghề cá nhân dân thành nghề cá hiện đại, tạo sự phát triển đồng bộ, đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển và giàu lên từ biển. Mục tiêu đến năm 2020 Ngành thủy sản cơ bản được công nghiệp hóa – hiện đại hóa và tiếp tục phát triển toàn diện theo hướng bền vững, thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn, có cơ cấu và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có thương hiệu uy tín, có khả năng cạnh tranh cao và hội nhập vững chắc vào kinh tế thế giới. Đồng thời từng bước nâng cao trình độ dân trí, đời sống vật chất và tinh thần của ngư dân, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và quốc phòng, an ninh vùng biển, đảo của Tổ quốc".

+ Nghị quyết số 09-NQ/BCT về chiến lược kinh tế biển đến năm 2020 xác định khai thác thủy sản là một trong những ngành kinh tế biển cần ưu tiên đầu tư phát triển. Nghị quyết chỉ rõ việc cần thiết phải tiến hành nghiên cứu, đánh giá đầy đủ về sự phát triển của lĩnh vực khai thác hải sản, nâng cấp thông tin về nguồn lợi hải sản, nhất là nguồn xa bờ, từ đó đổi mới phương thức tổ chức sản xuất, tiếp cận công nghệ khai thác tiên tiến, đưa các đội tàu cá vươn ra khai thác xa bờ. Tiến hành cơ cấu lại đội tàu khai thác hải sản xa bờ theo phương pháp đánh bắt phù hợp nhất với cơ cấu đội tàu và hiện trạng của nguồn lợi hải sản xa bờ, đạt được mục tiêu sản lượng khai thác bền vững. Đồng thời, tiến hành quy hoạch xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản. Thực hiện các chính sách khuyến khích nuôi trồng hải sản, hoàn thiện việc xây dựng quy hoạch chi tiết phát triển các vùng nuôi hải sản tập trung.



Thực hiện nội dung cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc có kế hoạch trở thành thành viên liên quan đến ngành thuỷ sản

- Trong thời gian qua nhiều công cụ quốc tế đã được xây dựng để quản lý nguồn lợi thế giới. Đặc biệt là Công ước Luật biển năm 1982, Hiệp định thực hiện các điều khoản của Công ước Luật biển của Liên Hợp quốc năm 1982 về bảo tồn và quản lý đàn cá lưỡng cư và di cư xa (UNSFA), Hiệp định thúc đẩy việc tuân thủ các biện pháp bảo tồn và quản lý do tàu cá thực hiện ở trên biển của FAO, Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm của FAO và nhiều kế hoạch hành động quốc tế khác như: Kế hoạch hành động quốc tế của FAO nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và loại trừ nạn đánh cá trái phép, không báo cáo và không theo quy định (IPOA - IUU), Kế hoạch hành động quốc tế của FAO nhằm giảm sản lượng đánh bắt ngẫu nhiên loài chim biển trong nghề câu vàng (IPOA - chim biển), Kế hoạch hành động quốc tế của FAO về bảo tồn và quản lý năng lực (IPOA - năng lực)... Trong khi UNFSA và Hiệp định thi hành áp đặt nghĩa vụ bắt buộc đối với các thành viên, thì các công cụ khác đều mang tính tự nguyện. Những công cụ này là công cụ để bảo tồn và quản lý nghề cá.

Công ước Luật biển năm 1982 quy định các vấn đề liên quan đến nghề cá như: quyền đánh cá trên biển; cân bằng lợi ích của các quốc gia; tài nguyên sinh vật biển được chia sẻ cho hai hay nhiều quốc gia; ngăn chặn sự suy giảm tài nguyên thủy sản trên biển và giải quyết tranh chấp quốc tế về khai thác thủy sản.

UNFSA có hiệu lực từ tháng 12 năm 2001 với số lượng các quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên lên tới 77. Mục tiêu của Hiệp định này là bảo đảm sự bảo tồn lâu dài và sử dụng bền vững nguồn lợi di cư từ vùng đặc quyền kinh tế ra biển cả và nguồn lợi di cư xa thông qua việc thực hiện hiệu quả các quy định của Công ước năm 1982. UNFSA xây dựng và quy định các quyền và nghĩa vụ của quốc gia trong việc bảo tồn và quản lý nguồn lợi thủy sản. Hiệp định này đề ra quy chế hợp tác quốc tế đối với các nguồn lợi thủy sản và xác định tổ chức quản lý nghề cá khu vực là cơ chế mà thông qua đó các quốc gia có thể hoàn thành nghĩa vụ của mình để quản lý và bảo tồn nguồn lợi.

Hiệp định thi hành của FAO được hoàn thiện trước UNFSA, có một số quy định trùng nhau. Hiệp định trở thành một phần thống nhất của Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm. Hiệp định áp dụng "các biện pháp bảo tồn và quản lý quốc tế" và tuân thủ theo Công ước Luật biển năm 1982. Do đó, Hiệp định hạn chế đối với một số loài được quy định bởi UNFSA. Vấn đề tập trung của Hiệp định thi hành là cho phép đánh cá ở biển cả và xây dựng khái niệm về trách nhiệm của quốc gia mà tàu treo cờ và cơ chế bảo đảm dòng thông tin tự do về hoạt động khai thác ở biển cả.

Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm quy định khung pháp lý về nỗ lực quốc gia và quốc tế nhằm bảo đảm việc thăm dò bền vững nguồn lợi thủy sản, hài hòa với môi trường. Quy tắc gồm các nguyên tắc và tiêu chuẩn áp dụng nhằm bảo tồn, quản lý và phát triển mọi nguồn lợi. Quy tắc quy định nghề khai thác, nuôi trồng, chế biến, kinh doanh, nghiên cứu thủy sản và thống nhất nghề cá ven biển.

Hiệp định về các biện pháp quản lý cảng nhằm ngăn chặn, phát hiện và xóa bỏ hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Hiệp định nhằm mục đích siết chặt hoạt động của các cảng cá với các tàu khai thác kiên quản đến hoạt động khai thác thủy sản IUU. Có thể xem đây là Hiệp định duy nhất có sự tham gia của các quốc gia không treo cờ trong cuộc chiến chống lại hoạt động khai thác thủy sản IUU, sát cánh cùng các quốc gia treo cờ chịu trách nhiệm quản lý các tàu treo cờ của nước mình tại vùng biển cả.

Nhìn chung, các điều ước quốc tế về thủy sản mà Việt Nam là thành viên hoặc đang hướng tới để trở thành thành viên đều nhấn mạnh các nghĩa vụ pháp lý hoặc khuyến nghị các quốc gia thực hiện một cách có trách nhiệm nhằm bảo đảm bảo tồn, phát triển nguồn lợi thủy sản, môi trường bền vững. Một mặt, Việt Nam nỗ lực thực hiện đầy đủ các quy định của các điều ước quốc tế về thủy sản, mặt khác, hướng tới trở thành thành viên của các Hiệp định về nghề cá, cụ thể, Việt Nam đã được Ủy ban Nghề cá Tây và Trung Thái Bình Dương (WCPFC) công nhận là quốc gia hợp tác nhưng chưa phải là thành viên (CNM) từ năm 2009. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tham gia nhiều hội nghị quốc tế về thủy sản, tham gia các diễn đàn tư vấn, hợp tác toàn cầu hoặc khu vực.

Luật thủy sản 2003 đã nội luật hóa nhiều điều ước quốc tế về thủy sản. Tuy nhiên, việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế trên thực tế phải gồm các quy định ở phạm vi rộng hơn với việc ban hành các chính sách trên thực tế để từ đó mới bảo đảm Luật thủy sản phù hợp với thông lệ quốc tế về thủy sản, đặc biệt là những điều ước quốc tế vừa mới được thông qua trong những năm gần đây. Do vậy, trong văn bản chuyên ngành cao nhất về thủy sản cần quy định những vấn đề mới như: trách nhiệm chống khai thác thủy sản IUU, trách nhiệm của quốc gia có cảng, vấn đề truy xuất nguồn gốc đối với nguyên liệu thủy sản, an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản... Việc thể chế này là cần thiết và quan trọng nhằm đảm bảo Luật Thủy sản phù hợp với các quy định quốc tế về thủy sản.

- Việt Nam gia nhập WTO và các công cụ liên quan như Hiệp định về Các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh và vệ sinh thực vật (SPS) sau khi Luật thuỷ sản được Quốc Hội thông qua. Vì vậy, để thực hiện các cam kết quốc tế nêu trên cần phải luật hoá một số quy định trên vào Luật thuỷ sản sửa đổi.



Yêu cầu của công tác cải cách hành chính của Chính phủ Việt Nam

Ngày 10/01/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg phê duyệt đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2007- 2010.

Thực hiện Quyết định 30/2007/QĐ-TTg Chính phủ đang tập trung chỉ đạo các Bộ ngành thực hiện việc đơn giản hoá các thủ tục hành chính. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiến hành rà soát các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản. Theo đó, cần cải cách các thủ tục hành chính về đăng ký, đăng kiểm tàu cá, cấp Giấy phép khai thác thủy sản, cấp các loại giấy chứng nhận liên quan đến NTTS và phân cấp thẩm quyền cho địa phương thực hiện một số thủ tục hành chính về thủy sản … Để thực hiện triệt để việc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản thì cấn thiết phải sửa đổi ngay những quy định của Luật thuỷ sản 2003 có liên quan đến thủ tục hành chính về thuỷ sản.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Phạm vi điều chỉnh: Luật thủy sản (sửa đổi) quy định về hoạt động thủy sản; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động thủy sản; trách nhiệm quản lý nhà nước về thủy sản.

Đối tượng áp dụng: Luật thủy sản (sửa đổi) áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động thủy sản trên đất liền, hải đảo, vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam; tổ chức, cá nhân Việt Nam khai thác thủy sản ở ngoài vùng biển của Việt Nam.

Những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính

Việc soạn thảo dự án Luật thủy sản (sửa đổi) thực hiện theo những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo sau:

- Thể chế hoá chủ trương, đưòng lối, chính sách đổi mới của Đảng về thuỷ sản; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đảm bảo phát huy cao nội lực, tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực, thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế. Kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Thủy sản 2003, bổ sung vào Luật những quy định tại các văn bản dưới luật đã được thực tiễn kiểm nghiệm, bổ sung những quy định mới khác phù hợp với điều kiện phát triển của ngành, bảo đảm tính khả thi và nguồn lực triển khai thực hiện. Nghiên cứu có chọn lọc kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, để vận dụng và đưa vào nội dung của Luật phù hợp với đặc điểm của ngành thuỷ sản Việt Nam.

Luật thuỷ sản sửa đổi tiếp tục thể chế hoá các chính sách cơ bản để bảo đảm cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cho sự phát triển của ngành thuỷ sản Việt Nam, cụ thể như sau:

+ Nguồn lợi thủy sản thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Tổ chức, cá nhân có quyền khai thác nguồn lợi thuỷ sản theo quy định của pháp luật;

+ Hoạt động thủy sản phải theo những nguyên tắc phát triển thủy sản bền vững, theo quy hoạch phát triển ngành thủy sản cả nước và quy hoạch phát triển ngành thủy sản từng địa phương;

+ Nhà nước bảo đảm các điều kiện vật chất, nguồn lực để quản lý hoạt động thủy sản theo Luật Thủy sản và các luật khác có liên quan; bảo đảm đáp ứng đủ, có chất lượng cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động thủy sản; tăng cường đầu tư nguồn lực cho các hoạt động thuỷ sản, đặc biệt là công tác bảo tồn, bảo vệ và tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản;

+ Khẳng định việc hạn chế, giảm dần khai thác thủy sản ven bờ; khuyến khích khai thác thuỷ sản xa bờ; quản lý hoạt động khai thác thủy sản tiến tới bền vững. Tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để phát triển tàu cá xa bờ, phát triển các loại tầu có công suất lớn, các phương tiện đánh bắt hiện đại. Tăng cường đầu tư phát triển hệ thống hậu cần dịch vụ cho khai thác thuỷ sản trên biển và ở các hải đảo;

+ Tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để phát triển mạnh các loại hình nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển và một số đối tượng nuôi chủ lực, có giá trị kinh tế cao, phát triển nghề nuôi cả trên biển, đảo, ven biển và nội đồng. Việc phát triển nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch, bảo đảm chất lượng và yêu cầu của truy xuất nguồn gốc thủy sản Thúc đẩy hoạt động giao, cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản, thực hiện quản lý chặt chẽ chất lượng giống, thức ăn, vật tư thuỷ sản, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm từ ao nuôi tới thị trường.

+ Tiếp tục đầu tư công nghiệp chế biến thủy sản hiện đại, đáp ứng yêu cầu về chất lượng của hàng hóa thủy sản xuất khẩu, thực hiện sản xuất hàng hóa thủy sản theo tiêu chuẩn và xây dựng thương hiệu chung cho sản phẩm thuỷ sản, có sự liên kết giữa các nhà sản xuất nguyên liệu, chế biến, xuất khẩu thủy sản và phát triển thị trường xuất khẩu thủy sản chủ lực.

+ Tạo cơ sở pháp lý cho việc cải cách thủ tục hành chính trong việc cấp giấy chứng nhận, cấp phép liên quan đến hoạt động thủy sản; phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh thực hiện một số thủ tục hành chính phù hợp; tạo định hướng, cơ sở pháp lý cho một số hoạt động thủy sản cần xã hội hóa trong tương lai.

+ Tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho việc xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu về hoạt động thuỷ sản, đặc biệt là công tác thống kê trữ lượng nguồn lợi thuỷ sản, thống kê sản lượng khai thác, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản... để phục vụ công tác quản lý nhà nước về thuỷ sản.

+ Xây dựng và phát triển lực lượng Kiểm ngư Việt nam để kiểm tra, giám sát các hoạt động khai thác thủy sản tại các vùng nước, bảo đảm an toàn cho người và tàu cá hoạt động khai thác thuỷ sản, góp phần bảo vệ an ninh và chủ quyền biển đảo.

+ Củng cố vai trò của hội, hiệp hội thủy sản trong quản lý hoạt động thủy sản.



Nội dung chính

Phạm vi điều chỉnh của Dự án Luật thủy sản (sửa đổi) vẫn kế thừa phạm vi điều chỉnh của Luật Thủy sản 2003, nhưng được bổ sung, mở rộng đối với phạm vi vùng biển ngoài vùng biển Việt Nam.



- Những quy định chung quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của luật, giải thích từ ngữ, sở hữu nguồn lợi thủy sản, nguyên tắc hoạt động thuỷ sản bền vững, quy hoạch thủy sản, hội về thủy sản, chính sách chung về phát triển thuỷ sản bền vững, truy xuất nguồn gốc thủy sản và những hành vi bị cấm trong hoạt động thủy sản. Sửa đổi, bổ sung một số khái niệm về thuỷ sản để làm cơ sở cho việc quy định các điều luật riêng biệt tại các chương. Sửa đổi quy định về nguyên tắc hoạt động thủy sản. Theo đó, bổ sung từ "bền vững" và tập hợp hóa có chọn lọc những nội dung quy định tại các điều về nguyên tắc hoạt động theo từng lĩnh vực hoạt động về một Điều tại chương I. Bổ sung một điều về quy hoạch phát triển thủy sản (Điều 6), một điều quy định về hội thủy sản (Điều 7), một điều về truy xuất nguồn gốc thuỷ sản (Điều 9).

- Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản quy định về bảo vệ môi trường sống của các loài thuỷ sản, bảo tồn, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản, khu bảo tồn vùng nước nội địa, khu bảo tồn biển, nguồn tài chính để tái tạo nguồn lợi thủy sản. Tách vấn đề bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản thành hai điều luật riêng biệt, một điều quy định về bảo tồn, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (Điều 12), một điều về tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản (Điều 14). Quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm những nội dung và biện pháp nhằm bảo tồn và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản. Bổ sung nguồn hình thành Quỹ tái tạo nguồn lợi thủy sản từ ngân sách Nhà nước cấp hàng năm.

- Khai thác thủy sản quy định về khai thác thủy sản xa bờ; khai thác thủy sản ven bờ, khai thác thủy sản nội đồng; điều tra, nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi thuỷ sản; quản lý vùng khai thác thủy sản; giấy phép khai thác thủy sản; báo cáo khai thác thuỷ sản và ghi nhật ký khai thác thủy sản; quyền của tổ chức, cá nhân khai thác thuỷ sản; nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản và phòng, tránh và giảm nhẹ tác hại của thiên tai trong khai thác thuỷ sản.

+ Về khai thác thủy sản xa bờ: Quy định cụ thể hơn việc nhà nước có chính sách đồng bộ để khuyến khích tổ chức, cá nhân phát triển bền vững hoạt động khai thác thuỷ sản xa bờ; quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ trong việc ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, biện pháp phát triển bền vững hoạt động khai thác thuỷ sản xa bờ; bổ sung trách nhiệm bắt buộc của chủ tàu cá khai thác thuỷ sản xa bờ trong việc mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu cá cho phù hợp với Luật Kinh doanh bảo hiểm.

+ Về khai thác thủy sản ven bờ: Khẳng định rõ quan điểm của nhà nước trong việc hạn chế tổ chức, cá nhân khai thác thuỷ sản ven bờ; giảm dần tàu cá khai thác nguồn lợi thuỷ sản tại vùng biển ven bờ; quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ trong việc quy định cụ thể và tổ chức thực hiện các chính sách, biện pháp hạn chế khai thác thủy sản ven bờ.

+ Về khai thác thủy sản nội đồng: Bổ sung một điều mới quy định về khai thác thủy sản nội đồng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc ban hành các văn bản QPPL về quản lý khai thác thủy sản nội đồng, phân biệt rõ tính chất hoạt động và quy mô của khai thác biển và khai thác thủy sản trong nội đồng.



+ Về Giấy phép khai thác thủy sản: Sửa đổi, bổ sung một số quy định về cấp Giấy phép khai thác thủy sản theo hướng cải cách thủ tục hành chính, phân cấp mạnh thẩm quyền cho chính quyền địa phương; luật hoá một số quy định về Giấy phép khai thác thủy sản quy định tại Nghị định của Chính phủ.

Nuôi trồng thủy sản quy định về điều kiện nuôi trồng thủy sản; quyền của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thuỷ sản; nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thuỷ sản; giao, cho thuê, thu hồi đất để nuôi trồng thuỷ; giao, cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản; giống thủy sản; nhập khẩu, xuất khẩu giống thủy sản; thức ăn, chất bổ sung thức ăn nuôi trồng thuỷ sản; thuốc, hoá chất, chất xử lý và cải tạo môi trường dùng trong nuôi trồng thủy sản; phòng trừ dịch bệnh; thẩm quyền công nhận vùng, cơ sở nuôi trồng thuỷ sản đạt tiêu chuẩn bảo đảm an toàn thực phẩm. Sửa đổi, bổ sung điều kiện nuôi trồng thủy sản theo hướng chặt chẽ hơn nhằm bảo đảm truy xuất nguồn gốc thủy sản nuôi trồng và bảo đảm an toàn thực phẩm thủy sản. Bổ sung thêm hai quyền mới của tổ chức cá nhân nuôi trồng thuỷ sản là: quyền được hỗ trợ rủi ro khi thiên tai, dịch bệnh và quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để nuôi trồng thủy sản; bổ sung thêm hai nghĩa vụ mới của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản là: bảo đảm sản phẩm nuôi trồng thủy sản phải được truy xuất nguồn gốc theo quy định của pháp luật và tuân thủ quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kiểm tra, kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong nuôi trồng thuỷ sản.

Tàu cá và cơ sở hoạt động thủy sản quy định về phát triển tàu cá; đóng mới, cải hoán tàu cá; đăng kiểm tàu cá; đăng ký tàu cá; đăng ký bè cá; thuyền viên tàu cá; tịch thu tàu cá; cảng cá; bến cá; khu neo đậu tránh trú bão tàu cá; hệ thống thông tin quản lý tàu cá và cơ sở sản xuất, kinh doanh ngư cụ khai thác thuỷ sản. Về phát triển tàu cá: khẳng định rõ việc Chính phủ có chính sách phát triển tàu cá phù hợp với định hướng khai thác thuỷ sản xa bờ và định hướng giảm dần số lượng tàu cá khai thác thủy sản ven bờ; phát triển các cơ sở đóng mới, cải hoán tàu cá có tính chất công nghiệp, có năng lực đóng mới, cải hoán tàu cá có công suất lớn. Bổ sung việc xuất khẩu tàu cá phải thực hiện theo quy định của Chính phủ. Về đóng mới, cải hoán tàu cá: sửa đổi tiêu chí phân định thẩm quyền phê duyệt hồ sơ thiết kế đóng mới, cải hoán tàu cá và thẩm quyền phê duyệt hồ sơ thiết kế đóng mới, cải hoán tàu cá theo hướng phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh. Về đăng kiểm tàu cá: sửa đổi thẩm quyền đăng kiểm tàu cá theo hướng phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh, không phân biệt địa giới hành chính. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ thực hiện việc đăng kiểm tàu cá có công suất từ 400 CV trở lên, tàu kiểm ngư và tàu điều tra nguồn lợi thủy sản. Bổ sung một điều quy định về đăng ký bè cá. Bổ sung một điều mới quy định các trường hợp tịch thu tàu cá. Sửa đổi quy định về quản lý thuyền viên tàu cá theo hướng quản lý lao động nghề cá bằng Thẻ thuyền viên tàu cá. Sửa đổi các quy định về cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão tàu cá. Bổ sung một điều mới quy định về hệ thống thông tin quản lý tàu cá

- Chế biến và thương mại thủy sản quy định cụ thể về thu mua, sơ chế thuỷ sản; chế biến thủy sản; bảo quản nguyên liệu thuỷ sản, sản phẩm thuỷ sản; xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản và sản phẩm hàng hoá thuỷ sản; chợ thủy sản đầu mối và quản lý chất lượng an toàn thực phẩm thuỷ sản. Bổ sung một điều mới quy định về thu mua, sơ chế thủy sản. Sửa đổi quy định về nhập khẩu, xuất khẩu hàng hóa thủy sản theo hướng quy định bổ sung việc nhập khẩu, xuất khẩu nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến thủy sản. Sửa đổi thẩm quyền của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong việc quản lý an toàn thực phẩm thủy sản theo quy định của Luật An toàn thực phẩm.

- Kiểm ngư Việt Nam là chương mới hoàn toàn so với Luật Thủy sản năm 2003, quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm ngư Việt Nam; tổ chức, trang bị, chế độ chính sách đối và thẩm quyền điều hành lực lượng Kiểm ngư Việt Nam.

Hợp tác quốc tế về hoạt động thủy sản quy định về nguyên tắc hợp tác quốc tế về hoạt động thuỷ sản; phát triển hợp tác quốc tế về hoạt động thuỷ sản; khai thác thuỷ sản ở ngoài vùng biển của Việt Nam; tàu cá nước ngoài vào hoạt động khai thác tại vùng biển Việt Nam. Các quy định về hợp tác quốc tế về hoạt động thủy sản cơ bản được giữ nguyên như Luật thủy sản 2003.

Quản lý Nhà nước về thủy sản quy định nội dung quản lý nhà nước về thuỷ sản; trách nhiệm quản lý nhà nước về thủy sản; thanh tra thủy sản. Quy định đầy đủ, cụ thể hơn các nội dung quản lý nhà nước về thủy sản. Sửa đổi quy định về Thanh tra thủy sản theo hướng xác định Thanh tra thủy sản là thanh tra chuyên ngành về nông nghiệp và phát triển nông thôn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về thanh tra. Luật giao Chính phủ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của thanh tra thuỷ sản, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra thủy sản và mối quan hệ giữa thanh tra chuyên ngành thuỷ sản và lực lượng Kiểm ngư.

Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

- Sử dụng nguồn nhân lực của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn gồm: Vụ Pháp chế (đơn vị thường trực Ban soạn thảo); Tổng cục Thuỷ sản và các Cục, Vụ có liên quan:

- Nguồn nhân lực khác: cán bộ, chuyên gia trong nước của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và các Bộ khác có liên quan, các Uỷ ban của Quốc hội; chuyên gia tư vấn nước ngoài trong kế hoạch hỗ trợ của Dự án Luật thuỷ sản giai đoạn II - đưa Luật vào cuộc sống.

- Ban soạn thảo, Tổ Biên tập sẽ được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành lập và hoạt động theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2008.



Nguồn kinh phí

- Trong năm 2010 -2011: sử dụng kinh phí hỗ trợ từ Dự án Luật thuỷ sản giai đoạn II - đưa Luật vào cuộc sống, do Chính phủ Vương quốc Na Uy hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

- Từ 2012 trở đi sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước theo các quy định hiện hành.

1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương