A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang46/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   ...   39   40   41   42   43   44   45   46   47

33. Luật tạm giữ, tạm giam


Dự án này đã được đưa vào Chương trình chuẩn bị năm 2012.

34. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú


Sự cần thiết ban hành

Luật cư trú được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2007. Những quy định của Luật cư trú cơ bản đã khắc phục được những tồn tại, bất cập của các VBQPPL trước đây về đăng ký, quản lý cư trú, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật, giải quyết những bức xúc của nhiều người về vấn đề cư trú; đồng thời góp phần tích cực, có hiệu quả trong công tác phòng ngừa xã hội và công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự trong tình hình hiện nay, thực hiện chủ trương cải cách hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn qua hơn 3 năm tổ chức thực hiện Luật cư trú cho thấy, quy định trong một số điều của Luật cư trú đã bộc lộ, phát sinh tồn tại, thiếu sót, bất cập như:

- Xuất hiện những trường hợp lợi dụng quy định về việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở để đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú nhưng thực tế những người này lại không cư trú tại đây, gây khó khăn cho công tác quản lý cư trú của địa phương;

- Quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật cư trú chưa chặt chẽ dẫn đến một số doanh nghiệp lợi dụng để ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn đối với những người không thuộc doanh nghiệp để đăng ký thường trú;

- Chưa quy định việc xóa đăng ký thường trú đối với một số trường hợp chấp hành hình phạt tù có thời hạn, xuất cảnh đi nước ngoài nên có nhiều trường hợp phải chấp hành hình phạt tù từ 15-20 năm, đi làm ăn ở nước ngoài nhưng vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương;

- Quy định thời hạn 24 tháng mới phải làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú khi chuyển chỗ ở mới là quá dài; việc cấp giấy chuyển hộ khẩu nhưng không xóa tên dẫn đến tình trạng một người có 2 nơi đăng ký thường trú khác nhau; không quy định thời hạn của sổ tạm trú nên nhiều trường hợp có nhiều sổ tạm trú khác nhau; thiếu nội dung quy định về nơi cư trú của trẻ em…

Bên cạnh đó, do các quy định thông thoáng về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện tình trạng nhiều đối tượng lạm dụng các quy định này để nhập hộ khẩu vào 2 thành phố nói trên, tốc độ tăng dân số cơ học vào 2 thành phố ngày càng tăng đã tạo nên sức ép về các vấn đề xã hội liên quan và vấn đề quản lý trật tự, an toàn xã hội.

Những tồn tại, thiếu sót, bất cập nêu trên đã gây khó khăn cho công tác đăng ký, quản lý cư trú, quản lý con người, thống kê số liệu về dân cư. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật cư trú là cần thiết.



Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

- Luật này sửa đổi, bổ sung các quy định về hành vi bị nghiêm cấm; về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương; về xóa đăng ký thường trú; về thay đổi nơi đăng ký thường trú trong trường hợp chuyển chỗ ở hợp pháp; về đăng ký tạm trú; về lưu trú và thông báo lưu trú; bổ sung một điều mới quy định về nơi cư trú của trẻ em.

- Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống.

Những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính

- Bảo đảm các quy định của Luật phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của nước ta hiện nay, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về cư trú; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi tối đa cho công dân trong cư trú.



- Phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính; bảo đảm tính khả thi cao và thống nhất với các VBQPPL khác trong hệ thống pháp luật.

Nội dung chính

Sửa đổi, bổ sung Điều 8 Luật cư trú về các hành vi bị nghiêm cấm: Bổ sung vào Điều 8 Luật cư trú quy định nghiêm cấm các trường hợp cho người khác đăng ký thường trú vào chỗ ở hợp pháp của mình để trục lợi; theo đó, đề nghị bổ sung hành vi cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để trục lợi; ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn đối với người lao động không thuộc doanh nghiệp của mình để nhập hộ khẩu.

Sửa đổi, bổ sung Điều 20 Luật cư trú về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương: Bổ sung quy định tăng thời gian tạm trú từ 1 năm lên 3 năm và quy định về diện tích chỗ ở tối thiểu 5m2/người đối với các trường hợp đăng ký thường trú vào chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ tại thành phố trực thuộc Trung ương.

Sửa đổi, bổ sung Điều 22 Luật cư trú về xóa đăng ký thường trú: Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp phải chấp hành hình phạt tù hoặc ra nước ngoài một thời gian dài, có trường hợp ở lại nước ngoài trái phép; được cấp giấy chuyển hộ khẩu nhưng chưa xóa đăng ký thường trú dẫn đến 1 người có thể có 2 nơi đăng ký thường trú. Do đó, Luật này dự kiến bỏ điểm đ khoản 1 Điều 22 Luật cư trú và bổ sung đối tượng xóa đăng ký thường trú là các trường hợp: chấp hành hình phạt tù; xuất cảnh từ 12 tháng trở lên; đã được cấp giấy chuyển hộ khẩu, trường hợp không cư trú tại nơi đăng ký thường trú từ 12 tháng trở lên.

Sửa đổi Điều 23 Luật cư trú về thay đổi nơi đăng ký thường trú trong trường hợp chuyển chỗ ở hợp pháp: Thời hạn phải làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú trong trường hợp chuyển chỗ ở hợp pháp là quá dài gây khó khăn cho cơ quan quản lý. Do đó, Luật này sửa đổi khoản 1 Điều 23 Luật Cư trú theo hướng: Người đã đăng ký thường trú mà thay đổi chỗ ở hợp pháp thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới có trách nhiệm làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú.

Sửa đổi Điều 30 Luật cư trú về đăng ký tạm trú: Khoản 4 Điều 30 Luật cư trú quy định sổ tạm trú không xác định thời hạn nên trên thực tế nhiều trường hợp không bị xóa tên trong sổ tạm trú ở chỗ cũ mặc dù đã chuyển đến chỗ ở mới, khi đến chỗ ở mới lại xin cấp sổ tạm trú dẫn đến tình trạng một người có nhiều sổ tạm trú khác nhau, vừa lãng phí, vừa khó quản lý. Do đó, Luật này sửa đổi khoản 4 Điều 30 Luật cư trú theo hướng: Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và có thời hạn 12 tháng.

Bổ sung quy định tại Điều 31 về lưu trú và thông báo lưu trú: Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tiếp nhận thông báo lưu trú là cần thiết, giúp giảm thời gian tiếp nhận thông báo lưu trú. Nhiều địa phương đã tổ chức thí điểm thành công việc tiếp nhận thông báo lưu trú thông qua mạng máy tính. Do đó, Luật này quy định bổ sung hình thức tiếp nhận thông báo lưu trú qua mạng máy vi tính vào khoản 2 Điều 31 Luật cư trú.

Ngoài ra, Luật này còn bổ sung một điều quy định về nơi cư trú của trẻ em.



Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

Việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú được xây dựng bằng nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp theo quy định hiện hành.



Bộ Công an là cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật, với sự tham gia của các bộ, ngành liên quan, như: Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Văn Phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội…
1   ...   39   40   41   42   43   44   45   46   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương