A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang40/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   ...   36   37   38   39   40   41   42   43   ...   47

24. Luật dân số


Sự cần thiết ban hành

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản và chính sách về dân số nhằm điều chỉnh toàn diện vấn đề dân số bao gồm quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và đảm bảo cơ sở pháp lý vững chắc để tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

Pháp lệnh dân số (PLDS 2003) được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XI thông qua ngày 09/01/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2003. Đây là văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước ta trong lĩnh vực dân số đã khắc phục được tình trạng tản mạn, phân tán việc điều chỉnh dân số ở nhiều văn bản trước đây. PLDS 2003 quy định phạm vi điều chỉnh là khá rộng, và toàn diện bao gồm những vấn đề liên quan đến kết quả của dân số (quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số); và đến quá trình dân số ( quá trình sinh, tử, di dân, phát triển về thể chất, trí tuệ và tinh thần của con người); quy định các nội dung quản lý nhà nước về dân số và công tác dân số.

PLDS 2003 khẳng định công dân có những quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền sinh sản. Nhà nước bằng những biện pháp kinh tế, xã hội, pháp luật bảo đảm sự bình đẳng, quyền tự quyết định có trách nhiệm của mỗi cá nhân gia đình trong kiểm soát sinh sản (quyết định thời gian sinh con, số con, khoảng cách giữa các lần sinh), chăm sóc SKSS, lựa chọn nơi cư trú và thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước và điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, gia đình. Kể từ ngày có hiệu lực thi hành đến nay, PLDS 2003 đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm của công dân, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong việc kiểm soát sinh sản, lựa chọn nơi cư trú, thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số. Trên thực tế hầu như không còn tình trạng cản trở hay cưỡng bức thực hiện KHHGĐ, vi phạm quyền phát triển toàn diện con người.

Nhà nước và xã hội đã không ngừng nâng cao trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong kiểm soát sinh sản, thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số. Nhiều địa phương đã đảm bảo khá tốt quyền của công dân về công tác dân số, đặc biệt là trong các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình. Kết quả điều tra cho thấy mặc dù còn có sự khác nhau, việc thực hiện quyền ‘được cung cấp các dịch vụ dân số có chất lượng, thuận tiện, an toàn và được giữ bí mật theo quy định của pháp luật’ có sự tiến bộ rõ nét, nhất là ở các Trung tâm đô thị. Có những nơi, dịch vụ do khối y tế tư nhân cung cấp được người dân tín nhiệm cao hơn so với dịch vụ y tế công.

Tuy nhiên, sau 7 năm thi hành, PLDS 2003 đã bộc lộ một số hạn chế và công tác quản lý dân số vẫn còn vướng phải một số bất cập sau:



  • Khá nhiều quy định của PLDS 2003 còn nặng tính nguyên tắc, chung chung, thiếu cụ thể và không áp dụng được trong thực tiễn.

  • Thiếu các quy định về quyền, trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội đối với việc giải quyết những vấn đề cụ thể.

  • Không quy định cụ thể các quy trình, các điều kiện đối với các đối tượng, đối với các tổ chức trong việc thực hiện các dịch vụ dân số.

  • Thiếu quy định cụ thể về đối tượng ưu tiên, mức ưu tiên và chính sách ưu tiên với các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và khó khăn (vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số..), người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn.

  • Chưa có văn bản quy định trách nhiệm trong công tác dân số, KHHGĐ của cơ quan tổ chức quản lý lao động Việt nam ở nước ngoài và cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài; chưa có cơ chế quản lý và văn bản hướng dẫn thực hiện bảo đảm thi hành các quyền và nghĩa vụ trong công tác dân số đối với công dân Việt Nam cư trú ở ngoài lãnh thổ nước Việt Nam.

  • Chưa có văn bản quy định chính sách DS-KHHGĐ cho nhóm đối tượng người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam (chưa có tài liệu truyền thông, giáo dục, các quy định riêng về chế độ thực hiện các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ dành cho nhóm đối tượng này); chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể trách nhiệm của cơ quan, tổ chức quản lý và cung cấp dịch vụ dân số, KHHGĐ đối với nhóm đối tượng này. Vì chưa có số liệu thống kê cụ thể nên chưa thể lượng giá tác động của PLDS 2003 đối với nhóm này cũng như mức độ hạn chế quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ với tư cách là công dân Việt Nam. Tuy nhiên, trong tiến trình hội nhập quốc tế, thực tế này sẽ ngày một phổ biến hơn cần được xem xét điều chỉnh trong Luật dân số, bảo đảm quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử của nhóm đối tượng này trong lĩnh vực dân số, chăm sóc SKSS/KHHGĐ.

  • Một trong những vấn đề nổi cộm xuất hiện trong dân số Việt Nam đó là hiện tượng di cư diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nhu cầu tư vấn và cung cấp phương tiện, dịch vụ KHHGĐ cho người di cư ngày càng lớn. Điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2004 cho thấy 64% người di cư thuộc nhóm 15-29 tuổi và gần 70% chưa kết hôn. Vì vậy nhu cầu truyền thông về hôn nhân, KHHGĐ, bảo vệ sức khỏe sinh sản, cung cấp phương tiện và dịch vụ thích hợp cho hàng triệu người di cư là cần thiết và rất lớn nhưng cũng khó khắc phục hơn do tính chất biến động cao của họ. Vấn đề này cần được đưa vào xem xét điều chỉnh trong Luật dân số để đảm bảo sự phân bố dân số hợp lý phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội quốc gia.

  • Dân số nước ta đang bước vào giai đoạn cơ cấu dân số vàng đồng thời cũng bước vào giai đoạn già hóa dân số. Năm 2007 Việt Nam có tỷ lệ người cao tuổi là 9,45%, đến năm 2020 số người cao tuổi của nước ta sẽ vượt quá 10 triệu người và chiếm trên 10% dân số. Hiện có 73% người cao tuổi sống ở nông thôn trong đó rất ít người được hưởng lương hưu, trợ cấp mà đa phần sống bằng chính sức lao động của mình hoặc hố trợ từ gia đình, 60%-70% số người cao tuổi có bệnh ốm đau cần được chăm sóc sức khỏe, nhưng không có thẻ bảo hiểm y tế mà do gia đình chi trả phí dịch vụ và tự chăm sóc bệnh nhân. Như vậy có thể nói Việt Nam đang đứng trước nguy cơ rơi vào tình trạng “Già trước khi giàu”. Đây là một thực tế đang hiện ra ngày một rõ nét, là bài toán đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước cần được đưa vào xem xét trong Luật dân số.

  • Chất lượng dân số đã tăng nhưng chậm được cải thiện. HDI của nước ta không ngừng tăng lên tuy nhiên so với thế giới thứ hạng còn thấp năm 2009 vẫn xếp thứ 116 trong số 182 nước, chưa bao giờ lọt vào tốp 100 nước phát triển nhất. Hiện nay, nhiều mô hình nâng cao chất lượng dân số được nghiên cứu thử nghiệm và tưng bước mở rộng tại 30 tỉnh, thành phố trong cả nước tuy nhiên vẫn còn những bất cập: Nhiều bà mẹ mang thai còn chưa được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh…, còn có sự khác biệt khá lớn về chỉ báo sức khỏe trẻ em giữa các vùng miền.

  • Trong xã hội hiện nay, một hiện tượng nữa nổi lên đó là việc đẻ thuê, đẻ hộ, mua bán tinh trùng, noãn đang diễn ra khá phổ biến nhưng vẫn chưa có văn bản pháp luật nào điều chỉnh… Đây là một trong những vấn đề khá nhức nhối ảnh hưởng đến chất lượng dân số Việt Nam cần được xem xét điều chỉnh trong Luật dân số.

Do đó việc xây dựng, ban hành Luật dân số là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay để tạo cơ sở hành lang pháp lý vững chắc cho việc quản lý dân số và công tác dân số được hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy đất nước ngày một phát triển.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Phạm vi điều chỉnh: Luật Dân số điều chỉnh những vấn đề liên quan đến kết quả của dân số (quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số) và đến quá trình dân số (quá trình sinh, tử, di dân, phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần của con người); quy định các tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình thực hiện các dịch vụ dân số, sức khỏe sinh sản; quy định cụ thể chính sách ưu tiên đối với việc sử dụng biện pháp tránh thai; quy định các nội dung quản lý nhà nước về dân số và công tác dân số.

Đối tượng áp dụng: Luật Dân số áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân Việt Nam; tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, người nước ngoài thường trú trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.

Những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính

  • Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và đồng bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

  • Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của Việt Nam để đảm bảo tính khả thi và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội, trình độ, nhận thức của người dân.

  • Kế thừa những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình đang phát huy hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn.

  • Tập hợp, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình thực hiện các dịch vụ dân số, sức khỏe sinh sản; quy định cụ thể chính sách ưu tiên đối với việc sử dụng biện pháp tránh thai nằm rải rác trong các văn bản có liên quan để đưa vào Luật.

Những nội dung chính

Chương I. Những quy định chung. Chương II. Chất lượng dân số. Chương III. Sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Chương IV. Cơ cấu dân số. Chương V. Phân bố dân cư. Chương VI. Thực hiện công tác dân số. Chương VII. Trách nhiệm tổ chức thực hiện Chương VIII. Điều khoản thi hành.

Duy trì mức sinh thấp hợp lý để sớm ổn định quy mô dân số dưới 120 triệu vào giữa thế kỷ 21. Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số lớn (đứng thứ 13 thế giới). Mật độ dân số Việt Nam hiện nay khoảng 260 người/km2, thuộc nhóm các nước có mật độ dân số cao nhất thế giới. Hệ quả của bùng nổ dân số trong những năm 75-95 dẫn đến số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ sẽ gia tăng trong 10 năm tới, số phụ nữ bước vào tuổi 20-34 là nhiều nhất, là giai đoạn mắn đẻ nhất trong cuộc đời. Cần tiếp tục điều chỉnh mức sinh thông qua vận động các cặp vợ chồng sinh muộn, sinh thưa, sinh ít con.

Mặc dù Việt Nam đó đạt mức sinh thay thế, nhưng dân số nước ta vẫn đang trong giai đoạn nhạy cảm với cỏc yếu tố tác động đến mức sinh. Việc “duy trì mức sinh thấp hợp lý” là một lựa chọn.



Thực hiện phổ cập về sức khỏe sinh sản bao gồm cả kế hoạch hóa gia đình. Mặc dù có sự cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn sự cách biệt lớn giữa các vùng về nhiều chỉ báo SKSS như tỷ số chết mẹ, tỷ suất chết trẻ em và tỷ lệ suy dinh dưỡng; khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau sinh, chăm sóc sơ sinh ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số còn hạn chế. Tỷ lệ phá thai, phá thai lặp lại còn khá phổ biến và có xu hướng tăng ở vị thành niên và thanh niên. Tỷ lệ vô sinh, nhất là vô sinh thứ phát khá cao, có xu hướng tăng, nhưng khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ sinh sản còn hạn chế. Nhiễm khuẩn đường sinh sản khá phổ biến, bệnh lây truyền qua đường tình dục, tỷ lệ nhiễm HIV và ung thư đường sinh sản vẫn có xu hướng gia tăng. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS), sức khỏe tình dục (SKTD) cho các nhóm đối tượng yếu thế, vị thành niên, thanh niên chưa sẵn có và chưa dễ tiếp cận. Việc đáp ứng nhu cầu thông tin, kiến thức, dịch vụ về SKSS, sức khỏe tình dục (sau đây viết tắt là SKTD) cho các nhóm dân số đặc thù như người chưa thành niên, thanh niên, nam giới, người di cư, người khuyết tật, người có HIV, nạn nhân của bạo lực tình dục, người dân trong thảm họa thiên tai...; Bạo lực gia đình, bạo hành giới trong SKSS, SKTD vẫn còn là vấn đề bức xúc. Sàng lọc phát hiện ung thư vú và ung thư cổ tử cung chưa được thực hiện rộng rãi.

Kiểm soát tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh. Hiện tượng nổi lên trong thập kỷ qua là tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh và bước vào mức cao, mấy năm gần đây có dấu hiệu tăng đột biến. Nếu không có giải pháp tích cực thì sẽ xảy ra tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tác động mạnh đến cơ cấu giới tính của dân số trong khoảng hai thập niên tiếp theo, dẫn đến tình trạng dư thừa nam giới so với phụ nữ cùng độ tuổi. Sự khan hiếm phụ nữ trong độ tuổi kết hôn sẽ gây áp lực đối với việc kết hôn đồng thời có nguy cơ làm gia tăng các tệ nạn xã hội như mại dâm, buôn bán phụ nữ...



Phát huy lợi thế của cơ cấu dân số vàng.Dân số trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) tăng nhanh cả về tỷ trọng và số lượng (khoảng 65 triệu người vào năm 2020). Điều này là cơ hội cho phát triển song cũng tạo ra những thách thức lớn về giáo dục, đào tạo nghề, tạo việc làm cho hàng chục triệu người lao động, đặc biệt là thanh niên. Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, phân bố lao động giữa các vùng. Việc phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất thời gian qua đã tạo việc làm cho người lao động, góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế của nhiều địa phương song cũng dẫn đến việc tăng giảm nhanh quy mô dân số của một số địa phương, mất cân bằng cục bộ về cơ cấu giới, tuổi dẫn đến những vấn đề mới gia đình và xã hội.

Chủ động thích ứng với dân số già. Dân số Việt Nam đang trong quá trình già hóa, số lượng người cao tuổi ngày càng tăng, cùng với bối cảnh mức sinh thấp, quy mô gia đình nhỏ, chủ yếu là gia đình hạt nhân gồm cha mẹ và con cái, đòi hỏi phải có các loại hình chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi phù hợp ngày càng bức thiết.

Nâng cao tổng thể chất lượng dân số cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số. Nâng cao chất lượng dân số có nghĩa là nâng cao thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số. Thể chất, trí tuệ và tinh thần của một dân tộc phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố (a) thu nhập bình quân của người dân và phúc lợi xã hội; (b) sức khoẻ cộng đồng và điều kiện dinh dưỡng; (c) điều kiện chăm sóc về y tế trong đó có CSSKSS; (d) Chất lượng giáo dục và môi trường phát triển trí tuệ; (đ) điều kiện giải trí về văn hoá và tinh thần; (e) điều kiện môi trường sống. Vì thế nâng cao chất lượng dân số liên quan đến nhiệm vụ của nhiều bộ, ngành.

Quy hoạch, đô thị hóa, phúc lợi cho người di cư: Dân số thành thị tăng nhanh, chủ yếu do tác động của quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá. Dân số nông thôn từ các tỉnh vào các thành phố, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có quy mô ngày càng lớn và góp phần đáng kể cho tăng trưởng dân số của các thành phố, tăng tỷ lệ dân số thành thị. Đa số người nhập cư vào các khu vực đô thị, công nghiệp phát triển là di cư tự do, dân số lưu động (di cư theo mùa vụ) chưa được đào tạo chuyên môn, có trình độ học vấn thấp hơn người sở tại, đa phần là người có thu nhập thấp và mang theo mình những đặc trưng của lối sống nông thôn. Những yếu tố này chắc chắn sẽ ảnh hưởng nhiều tới sự phát triển nguồn nhân lực của các khu vực đô thị hoá.

Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

Bộ Y tế chủ trì soạn thảo trên cơ sở nguồn ngân sách do nhà nước cấp.


1   ...   36   37   38   39   40   41   42   43   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương