A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang37/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   ...   33   34   35   36   37   38   39   40   ...   47

17. Luật phòng, chống tác hại của rượu bia

18. Luật bảo vệ sức khỏe tâm thần

19. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chuyển giao công nghệ


Sự cần thiết ban hành

Thực trạng pháp luật trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ

Ngày 29 tháng 11 năm 2006, Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật chuyển giao công nghệ. Luật chuyển giao công nghệ được ban hành thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc quan tâm đến nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Nhằm cụ thể hoá Luật chuyển giao công nghệ, năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 133/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật chuyển giao công nghệ.

Sau gần 4 năm thi hành, với kỳ vọng Luật chuyển giao công nghệ sẽ tạo ra một bước đột phá trong việc thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ nhưng những kết quả thu được cho thấy một số quy định của Luật cần phải điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Việc bổ sung, sửa đổi một số nội dung của Luật nhằm phù hợp với thực tế phát triển KT-XH, đồng thời đảm bảo chức năng quản lý của nhà nước trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, đặc biệt là chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là cần thiết.

Do những lý do nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung Luật chuyển giao công nghệ là rất cần thiết nhằm: Khắc phục những bất cập, vướng mắc, không còn phù hợp với thực tế trong quá trình triển khai thực hiện Luật chuyển giao công nghệ. Đảm bảo thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ. Đảm bảo tính phù hợp, thống nhất giữa Luật chuyển giao công nghệ với thông lệ quốc tế.

Những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính

Nội dung chính

- Về đối tượng công nghệ được chuyển giao: Trong Luật chuyển giao công nghệ năm 2006, đối tượng công nghệ được chuyển giao bị thu hẹp lại so với định nghĩa về công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra và đã được sử dụng trong thời gian gần đây, trong đó khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội. Ngày nay, các lĩnh vực như công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng,… đang phát triển một cách mạnh mẽ, do vậy việc mở rộng đối tượng công nghệ chuyển giao trong Luật chuyển giao công nghệ nên được nghiên cứu kỹ để bổ sung cho phù hợp với thực tế.

- Về 03 Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao và Danh mục công nghệ cấm chuyển giao, nếu để Chính phủ ban hành và sửa đổi, bổ sung Danh mục như quy định trong Luật hiện nay thì rất khó vì 3 Danh mục này thường xuyên phải cập nhật, bổ sung, nếu để Chính phủ ban hành thì sẽ phải qua trình tự, thủ tục ban hành phức tạp, khó đáp ứng được việc sửa đổi, bổ sung, cập nhật Danh mục một cách thường xuyên và liên tục trong thời đại mà công nghệ biến đổi không ngừng như hiện nay.

- Về quản lý nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ, qua 4 năm thực hiện, việc quản lý các luồng công nghệ nhập rất khó khăn do việc đăng ký chuyển giao không bắt buộc, chính vì vậy, cơ quan quản lý không biết chính xác hằng năm có bao nhiêu công nghệ được chuyển giao vào Việt Nam. Đặc biệt đối với loại hình chuyển giao công nghệ từ Công ty Mẹ ở nước ngoài cho Công ty con thành lập tại Việt Nam cần phải có cách thức quản lý chặt chẽ hơn để tránh tình trạng chuyển giá qua chuyển giao công nghệ.

- Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ: Quy định như Điều 19 của Luật chuyển giao công nghệ là chưa chặt chẽ vì trong thực tế có những Hợp đồng chuyển giao công nghệ quy định thời hạn hiệu lực của Hợp đồng trước cả thời điểm ký Hợp đồng chuyển giao công nghệ 1-2 năm. Do vậy cần phải quy định cụ thể hơn để tránh hiện tượng lách luật.

- Theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ, không còn chế độ báo cáo đối với các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ, chỉ những tổ chức, cá nhân chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao mới phải thực hiện chế độ báo cáo, do vậy việc kiểm tra, giát sát tình hình thực hiện sẽ khó khăn. Việc bổ sung thêm quy định tất cả các tổ chức, cá nhân khi được cấp Giấy phép và Giấy chứng nhận đăng ký Hợp đồng chuyển giao công nghệ, hằng năm phải gửi báo cáo tình hình triển khai hoạt động chuyển giao công nghệ đến cơ quan cấp Giấy phép/Giấy chứng nhận đăng ký là cần thiết, có như vậy mới quản lý được luồng công nghệ nhập ngoại.

- Về dịch vụ chuyển giao công nghệ: Hoạt động của các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ góp phần không nhỏ vào thành công của hoạt động chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, các tổ chức này phải là các tổ chức có đủ điều kiện mới hoạt động tốt vì bản thân công nghệ là một loại hàng hoá vô hình, do vậy, cần phải coi đây là một loại kinh doanh có điều kiện để từ đó có những quy định về điều kiện thành lập và phương thực hoạt động cho phù hợp.

Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

Cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Khoa học và công nghệ. Ngân sách do nhà nước cấp theo quy định hiện hành.


20. Luật thú y


Sự cần thiết ban hành

Theo Nghị quyết số 11/2007/NQ-QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011) về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2008, Luật thú y được đưa vào Chương trình chuẩn bị. Theo quy định của Luật ban hành các VBQPPL, Chính phủ đã thành lập Ban soạn thảo để nghiên cứu, xây dựng Luật thú y, cụ thể như sau:

Trong thời gian qua, việc xây dựng một khung pháp luật hoàn chỉnh về thú y đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện qua việc Pháp lệnh thú y được Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua lần đầu tiên năm 1993 và lần thứ hai năm 2004.

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về thú y trong tình hình mới, thống nhất hoạt động này từ trung ương đến địa phương, Nghị quyết số 11/2007/NQ-QH12 của Quốc hội đã thống nhất đưa dự án Luật thú y vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XII (chương trình dự bị).

Mục đích của dự án là nâng cấp Pháp lệnh thú y thành Luật thú y, mở rộng phạm vi điều chỉnh và bổ sung một số quy định mới để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới, đồng thời đáp ứng yêu cầu về hội nhập kinh tế quốc tế. Theo đó, phạm vi điều chỉnh của Luật thú y là các hoạt động thú y nhằm bảo vệ sức khỏe động vật, phát triển chăn nuôi bền vững, bảo vệ sức khỏe con người, môi trường và hệ sinh thái.

Trong những năm qua, Pháp lệnh thú y - điều chỉnh mọi hoạt động thú y - đã là hành lang pháp lý giúp cho các cơ quan nhà nước thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thú y, từng bước đưa hoạt động thú y vào nề nếp, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động thú y nhằm đạt được mục tiêu đặt ra khi xây dựng Pháp lệnh: “Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh lây lan nhằm bảo vệ và phát triển động vật, cung cấp động vật và sản phẩm động vật có chất lượng cao cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường sinh thái.”

Đến nay, qua hơn 6 năm thực hiện, về cơ bản, Pháp lệnh thú y năm 2004 đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra như đã kết hợp được giữa yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ với các biện pháp quản lý nhà nước về thú y; đã quy định tương đối đầy đủ về phòng, chống, khống chế, thanh toán dịch bệnh động vật; kiểm dịch, kiểm soát giết mổ động vật, kiểm tra vệ sinh thú y; quản lý thuốc thú y; hành nghề thú y, đồng thời hình thành khung pháp lý để quản lý các hoạt động thú y.

Tuy nhiên, Pháp lệnh thú y cũng đã bộc lộ một số điểm hạn chế, không còn đáp ứng được thực tiễn sản xuất, yêu cầu cũng như nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong tình hình mới, cụ thể như sau:



Về phòng, chống, khống chế và thanh toán dịch bệnh: Thực tiễn trong những năm gần đây cho thấy một số quy định về phòng, chống dịch bệnh trong Pháp lệnh thú y năm 2004 đã bộc lộ những hạn chế nhất định, không đạt hiệu quả mong muốn. Cụ thể như quy định về điều kiện công bố dịch bệnh phải phụ thuộc vào báo cáo tình hình dịch bệnh của UBND cấp huyện hoặc có kết luận chẩn đoán của phòng thí nghiệm, dẫn đến hiện tượng không công bố dịch ở một số địa phương; quy định cấm đưa vào, mang ra khỏi vùng có dịch động vật mẫn cảm với bệnh dịch đã công bố, gây ảnh hưởng đến sản xuất, lưu thông động vật và sản phẩm động vật của các cơ sở chăn nuôi đã được công nhận là an toàn dịch; thiếu những quy định về quyền lợi của người chăn nuôi trong việc xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật nên chưa tạo được động lực thúc đẩy hoạt động này; chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc ra quyết định tiêu huỷ động vật chết, động vật mắc bệnh dịch để kịp thời ngăn chặn dịch bệnh lây lan; chưa quy định việc chủ động giám sát, dự báo dịch bệnh đối với cơ quan chuyên ngành để giúp người chăn nuôi có biện pháp phòng bệnh, ngăn chặn sự phát sinh dịch bệnh.

Về kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y:Trong lần sửa đổi, ban hành năm 2004, Pháp lệnh thú y đã bổ sung một số quy định về kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y để phù hợp với tình hình phát triển chăn nuôi, thương mại động vật, sản phẩm động vật trong những năm qua. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng một số quy định đã không còn theo kịp với xu hướng phát triển chăn nuôi, mua bán, trao đổi, lưu thông động vật và sản phẩm động vật.

Khái niệm về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật cần nghiên cứu, quy định phù hợp với quốc tế. Các quy định về xây dựng cơ sở giết mổ động vật tập trung, về kiểm tra vệ sinh thú y trong giết mổ động vật... trong quá trình triển khai thực hiện không đạt hiệu quả, đã ảnh hưởng tiêu cực đến công tác phòng, chống dịch bệnh động vật cũng như bảo đảm vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm.

Ngoài ra, việc Pháp lệnh thú y năm 2004 cũng chưa bổ sung các quy định về trách nhiệm và quyền hạn của Việt Nam trong xuất khẩu, nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật để phù hợp với Luật thú y của OIE; chưa quy định việc đánh dấu, lưu giữ thông tin về động vật, sản phẩm động vật trong chăn nuôi, giết mổ động vật, chế biến sản phẩm động vật để phục vụ việc truy nguyên nguồn gốc ổ dịch cũng như các trường hợp không đảm bảo vệ sinh thực phẩm; việc kiểm tra thực phẩm theo chuỗi từ “trang trại đến bàn ăn” cũng chưa được Pháp lệnh quy định cụ thể.

Về quản lý thuốc thú y: Pháp lệnh thú y năm 2004 đã bổ sung một số nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với việc sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, thử nghiệm, khảo nghiệm, sử dụng thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hoá chất dùng trong thú y ở dạng nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm nhằm bảo vệ lợi ích người chăn nuôi, người sản xuất, người sử dụng sản phẩm động vật, bảo đảm vệ sinh môi trường. Những quy định này được áp dụng trên thực tiễn đã góp phần không nhỏ đến sự phát triển của ngành sản xuất thuốc thú y, nâng cao một bước chất lượng sản phẩm thuốc thú y.

Thực tế qua 6 năm áp dụng cho thấy một số quy định hiện không còn phù hợp, gây ách tắc cho sản xuất: quy định thuốc thú y chỉ được phép sản xuất, sử dụng khi có trong Danh mục do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành hàng năm; mặt khác Pháp lệnh lại chưa có quy định về giải quyết khiếu nại về chất lượng các sản phẩm trong lĩnh vực thú y đã gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm; chưa bổ sung quy định việc áp dụng nguyên tắc tiêu chuẩn “Thực hành tốt phân phối thuốc – GDP”, “Thực hành tốt nhà thuốc – GPP” trong khi khâu bảo quản, kinh doanh thuốc ở nước ta đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp thuốc thú y chất lượng tốt.



Về hành nghề thú y: Pháp lệnh thú y năm 2004 đã có một chương quy định về hành nghề thú y nhằm đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động thú y và giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Thực tiễn qua 6 năm thực hiện Pháp lệnh đã cho thấy cần sửa đổi, bổ sung một số quy định để quản lý người hành nghề có hiệu quả, nâng cao chất lượng của hoạt động hành nghề, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc xã hội hóa các hoạt động thú y. Qua phân tích những hạn chế nêu trên, việc sửa đổi các quy định trong cả bốn lĩnh vực: phòng chống, khống chế và thanh toán dịch bệnh; kiểm dịch động vật, kiểm tra vệ sinh thú y; quản lý thuốc thú y và hành nghề thú y để đáp ứng được thực tiễn sản xuất hiện nay và nhiều năm tới đã trở thành một yêu cầu cấp thiết.

Đồng bộ với các VBQPPL mới ban hành, tạo thành một hệ thống pháp luật thống nhất: Những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp nói chung và lĩnh vực thú y nói riêng như Luật dược (6/2005), Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (6/2006), Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa (5/2007), Luật an toàn thực phẩm (10/2010)....

Đối chiếu với quy định tại các luật này, Pháp lệnh thú y năm 2004 đã bộc lộ một số điểm không phù hợp, cụ thể như sau:



Về chất lượng sản phẩm hàng hóa: Tại thời điểm được ban hành năm 2004, dựa trên cơ sở quy định của Pháp lệnh chất lượng hàng hóa, Pháp lệnh thú y đã quy định điều kiện cũng như đưa ra các tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn Việt Nam và quy định việc công bố phù hợp tiêu chuẩn nhằm đảm bảo tính an toàn của các sản phẩm hàng hóa như thuốc thú y, chế phẩm sinh học... trước khi đưa vào lưu thông trên thị trường. Tuy nhiên, với việc Quốc hội ban hành Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, những quy định nêu trên của Pháp lệnh thú y trở nên lỗi thời, gây nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng, yêu cầu phải nhanh chóng được sửa đổi, bổ sung và nâng cấp hiệu lực pháp lý để phù hợp.

Về hệ thống tiêu chuẩn sử dụng trong ngành thú y: Tại Điều 7, Pháp lệnh thú y năm 2004 quy định hệ thống tiêu chuẩn vệ sinh thú y, hệ thống tiêu chuẩn thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y bao gồm tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn cơ sở. Đối chiếu với quy định hệ thống tiêu chuẩn chỉ bao gồm tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn cơ sở của Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 thì các quy định về hệ thống tiêu chuẩn gồm 3 cấp đã nêu của Pháp lệnh thú y hoàn toàn không còn phù hợp. Thực tiễn cho thấy, tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn ngành là như nhau về đối tượng, phạm vi áp dụng và cấp thẩm quyền ban hành; do đó, việc quy định 3 cấp tiêu chuẩn dẫn tới sự chồng chéo, thiếu nhất quán về đối tượng và nội dung tiêu chuẩn hóa, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Nhiều tiêu chuẩn ngành vừa ban hành đã nhanh chóng lạc hậu so với thực tiễn, mức độ hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế thấp. Hơn nữa, Pháp lệnh thú y năm 2004 cũng không quy định về việc công bố hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, quy định về hệ thống quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng và vì vậy, có thể nói các sản phẩm hàng hóa chuyên ngành sẽ không đảm bảo tính an toàn, không có sức cạnh tranh trên thị trường.

Về trách nhiệm quản lý nhà nước trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm: Luật an toàn thực phẩm, được Quốc hội ban hành tháng 10/2010, đã có những quy định cụ thể về trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm. Tại Điều 63 của Luật quy định Bộ Nông nghiệp chịu trách nhiệm “Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản...các sản phẩm từ trứng, sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản phẩm từ mật ong..”. Pháp lệnh thú y năm 2004 chỉ quy định Bộ Nông nghiệp có trách nhiệm quản lý trong một vài khâu của chuỗi thực phẩm như chăn nuôi, giết mổ động vật, sơ chế, lưu thông sản phẩm động vật tươi sống...là không đầy đủ phạm vi quản lý, không bao quát toàn bộ chuỗi thực phẩm và vì vậy không phù hợp với những quy định mới của Luật an toàn thực phẩm.

Phù hợp, hài hòa với luật pháp và thông lệ quốc tế: Với sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 01/2007, ký kết các Hiệp định TBT (hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại), Hiệp định SPS (hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật).. một số quy định về thương mại động vật và sản phẩm động vật, về phòng chống dịch bệnh của Pháp lệnh đã không còn phù hợp về nhiều mặt. Trong số các hiệp định đã ký kết, Hiệp định SPS có một tầm quan trọng đặc biệt đối với ngành nông nghiệp nói chung và ngành thú y nói riêng, nhất là lĩnh vực kiểm dịch động vật. Hiệp định SPS đề cập đến quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý của các thành viên WTO, nhấn mạnh đến một số nguyên tắc chính như tính hài hòa, tính tương đương, mức độ bảo vệ phù hợp, đánh giá rủi ro, các điều kiện của khu vực và tính minh bạch. Theo quy định của Hiệp định, các quốc gia thành viên được quyền áp dụng biện pháp đánh giá nguy cơ và áp dụng mức bảo vệ vệ sinh dịch tễ thích hợp. Việc Pháp lệnh thú y năm 2004 không quy định áp dụng các biện pháp này trong kiểm dịch động vật nhập khẩu là một hạn chế không nhỏ vì đây là những biện pháp kỹ thuật đã được các quốc gia thành viên của Hiệp định áp dụng rộng rãi, nhằm giảm tối đa nguy cơ dịch bệnh xâm nhập, bảo vệ sức khỏe đàn động vật trong nước. Cũng theo Hiệp định, để đảm bảo tính hài hòa hóa thì Việt Nam phải thiết lập, công nhận và áp dụng một số biện pháp dịch tễ chung giữa các quốc gia thành viên; để đảm bảo tính tương đương thì các biện pháp SPS được Việt Nam áp dụng phải tuân thủ theo chuẩn quốc tế do các tổ chức như Tổ chức Thú y thế giới (OIE), Ủy ban tiêu chuẩn Thực phẩm (CODEX) xây dựng. Do đó, để có thể đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý khi tham gia Hiệp định, đồng thời để đảm bảo quyền lợi của mình khi hội nhập với môi trường thương mại quốc tế động vật và sản phẩm động vật, Việt Nam phải bổ sung các quy định quốc tế về phòng chống dịch bệnh, an toàn dịch bệnh, thông báo dịch bệnh; quản lý sử dụng thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi; trách nhiệm, quyền hạn trong xuất khẩu, nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật, đánh giá nguy cơ...trong pháp luật về thú y. Từ những yêu cầu nêu trên, để pháp luật về thú y của Việt Nam hài hòa, tương đồng với luật pháp quốc tế, phù hợp với các hiệp định đã tham gia, ký kết thì việc sửa đổi, nâng cấp Pháp lệnh thú y trở nên cần thiết.

Đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính: Thực tế hiện nay, trong một số lĩnh vực có liên quan đến ngành thú y, việc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các ngành, các cấp còn thiếu cụ thể, dẫn đến sự chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ trong quá trình thực hiện, vì vậy đã không đảm bảo các yêu cầu đặt ra của công cuộc cải cách hành chính. Có thể nêu ra một số tồn tại trong việc phân cấp quản lý như sau:

- Đối với thủy, hải sản tiêu dùng trong nước nhất là ở các chợ chưa được kiểm tra chất lượng.

- Việc sử dụng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y trong chăn nuôi ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm động vật nhưng hiện nay, việc kiểm tra vệ sinh thú y đối với thức ăn chăn nuôi, việc quản lý, sử dụng thuốc thú y còn nhiều tồn tại, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Theo yêu cầu của Luật thú y do Tổ chức Thú y thế giới (OIE) xây dựng, việc kiểm tra vệ sinh thú y phải được thực hiện tại tất cả các khâu từ “trang trại tới bàn ăn”. Đây cũng là vấn đề đòi hỏi chúng ta cần tổ chức quản lý chặt chẽ hơn.

- Xây dựng các cơ sở giết mổ tập trung, quản lý việc giết mổ chưa giao cụ thể cho ngành nào, cấp nào chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, do đó ở nhiều địa phương tình trạng giết mổ tại gia đình không bảo đảm vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường vẫn còn rất phổ biến, không thể kiểm soát. Điều này tạo nên một hiện tượng nghịch lý là các cơ sở giết mổ tập trung, đầu tư dây chuyền giết mổ hiện đại nhưng lại rất thiếu hụt nguyên liệu dẫn đến việc không hoạt động hoặc sử dụng không hết công suất, làm hiệu quả đầu tư kém, sản phẩm không thể cạnh tranh về giá với giết mổ nhỏ lẻ, mất vệ sinh. Chính vì vậy, Luật thú y cần quy định rõ trách nhiệm của chính quyền các cấp trong việc chỉ đạo giết mổ động vật tại các cơ sở đủ điều kiện vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm và sự phối hợp giữa các ban, ngành ở địa phương thì mới có thể giải quyết được tồn tại này.

Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 cũng đặt ra mục tiêu “xoá bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân”. Thực hiện chủ trương trên, trong ba năm gần đây, một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực kiểm dịch động vật, quản lý thuốc đã được sửa đổi theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện đã nêu. Tuy nhiên, việc sửa đổi chưa hoàn toàn triệt để do còn vướng các quy định “gốc” của Pháp lệnh. Do đó, những vấn đề trên cần đưa vào dự thảo Luật thú y để làm cơ sở cho việc tăng cường công tác quản lý nhà nước, trong việc phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thú y. Có như vậy mới có thể đáp ứng được những mục tiêu, yêu cầu về cải cách hành chính mà Nghị quyết số 17-NQ/TƯ và Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 đặt ra.

Những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính

Quán triệt chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về nội dung tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, về đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững. Nghị quyết số 26 - NQ/TW về nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã nhấn mạnh đến mục tiêu phát triển ngành chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp, tăng cường công tác thú y, phòng chống dịch bệnh; phát triển sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp; tổ chức lại và hiện đại hoá cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm.

Quán triệt quan điểm bảo vệ và phát triển động vật, bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về thú y; nâng cao hiệu quả phòng chống dịch bệnh tiến tới khống chế, thanh toán dịch bệnh động vật; nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Hoàn thiện và đảm bảo hệ thống pháp luật về thú y, hòa hợp với luật pháp quốc tế, phù hợp với thực tiễn. Bảo đảm kế thừa những quy phạm pháp luật hiện hành có tính khả thi còn phù hợp, đồng thời bổ sung những quy định mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, phục vụ công tác quản lý nhà nước, bảo đảm sự thống nhất với các luật, pháp lệnh khác có liên quan mới được ban hành.

Khắc phục được những hạn chế của pháp luật về thú y hiện hành. Nâng cao địa vị pháp lý của pháp luật về thú y trên cơ sở bổ sung mới và kế thừa các quy định còn khả thi. Quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp trong quản lý nhà nước về thú y và tạo thuận lợi cho các đối tượng có hoạt động liên quan đến thú y. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về thú y, nâng cao hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh động vật. Phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước ta hiện nay và những năm tới. Hài hòa với luật pháp quốc tế, đồng thời phù hợp với yêu cầu hội nhập về nhiều mặt của nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Nội dung chính

Dự thảo Luật thú y gồm 8 chương với 91 điều.

Những quy định chung. Phòng bệnh, chữa bệnh cho động vật (quy định về phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh động vật; kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế, chế biến, kinh doanh sản phẩm động vật; kiểm tra vệ sinh thú y; sản xuất, kinh doanh thuốc thú y; hành nghề thú y; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về thú y; trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến thú y). chống dịch bệnh động vật. Kiểm dịch, kiểm soát động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế, chế biến, kinh doanh sản phẩm động vật; kiểm tra vệ sinh thú y; giám sát vệ sinh sản phẩm động vật. Quản lý thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y; sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi thủy sản. Hành nghề thú y. Quản lý nhà nước về thú y. Thanh tra, kiểm tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong lĩnh vực thú y.

Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

Sử dụng nguồn nhân lực của Bộ Nông nghiệp và PTNT và các bộ ngành có liên quan.

Sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước theo các quy định hiện hành và kết hợp với nguồn tài chính hỗ trợ của các tổ chức, dự án quốc tế như FAO, OIE, USAID, STAR Vietnam, Stop AI...

Dự kiến cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Các cơ quan phối hợp là Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Hải quan, Công thương, Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Khoa học công nghệ của Quốc hội và các cơ quan, tổ chức có liên quan.

1   ...   33   34   35   36   37   38   39   40   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương