A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang34/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   ...   30   31   32   33   34   35   36   37   ...   47

20. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự


Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung luật

Ngày 14/11/2008, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật thi hành án dân sự. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tế thi hành Luật thi hành án dân sự cho thấy đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, đòi hỏi cần nghiên cứu, khắc phục, cụ thể là:



1. Quy định đơn yêu cầu thi hành án phải có thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án

Một trong những điểm mới của Luật thi hành án dân sự là quy định người được thi hành án có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Do vậy, trường hợp đơn yêu cầu thi hành không có đầy đủ các nội dung quy định và người được thi hành án không yêu cầu xác minh thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ khoản 2 Điều 4 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ thông báo để đương sự bổ sung nội dung đơn yêu cầu thi hành án trước khi ra quyết định thi hành án. Tuy nhiên, quy định này chưa cụ thể về biện pháp xử lý trong trường hợp đã hướng dẫn nhưng người được thi hành án vẫn không cung cấp thông tin hoặc không yêu cầu Chấp hành viên xác minh tài sản.



2. Bổ sung quy định chủ động ra quyết định thi hành án đối với “lệ phí”

Khoản 1 Điều 36 Luật thi hành án dân sự quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định liên quan đến một số loại tiền, tài sản, nhưng không bao gồm lệ phí Toà án, trong khi thực tiễn cho thấy, có những bản án, quyết định của Tòa án có phần lệ phí Tòa án (đối với các việc dân sự), do đó cần bổ sung khoản lệ phí Tòa án vào loại chủ động ra quyết định thi hành án tại điểm a khỏan 1 Điều 36 Luật thi hành án dân sự: a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án.



3. Về xác minh điều kiện thi hành án

Điều 44 Luật thi hành án dân sự quy định, việc xác minh điều kiện thi hành án phải lập thành biên bản, có xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố, UBND cấp xã, Công an xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh. Tuy nhiên trên thực tế, Tổ trưởng tổ dân phố tuy nắm rõ điều kiện của người phải thi hành án, nhưng phần lớn thời gian đi làm vắng, không thường xuyên ở nhà nên khó liên hệ, mặt khác họ sợ trách nhiệm và ngại va chạm. Trong khi đó, Nhà nước lại chưa có chính sách đãi ngộ thỏa đáng và không có cơ chế quy trách nhiệm đối với họ, nên họ thường không nhiệt tình hợp tác.



4. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án đối với doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá

Quy định tại điểm e khoản 1 Điều 54 của Luật thi hành án dân sự và Điều 10 Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần về chuyển giao nghĩa vụ thi hành án đối với doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phẩn hoá có điểm khác nhau nên đã gây khó khăn trong việc xử lý các vụ việc trên thực tế.



5. Việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án

Điều 59 Luật thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó thì tài sản được định giá theo quy định tại Điều 98 của Luật này để thi hành án”. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định cụ thể việc định giá để thi hành án chia theo tỷ lệ như thế nào, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này cũng chưa quy định chi tiết.

Vì vậy, cần sửa đổi theo hướng cụ thể như sau: “Trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó thì Chấp hành viên tổ chức định giá tài sản theo quy định tại Điều 98 của Luật này để thi hành án bằng tiền tương ứng với tỷ lệ giá trị tài sản được chia tại thời điểm thi hành án”.

6. Điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án

Điều 61 Luật thi hành án dân sự và khoản 1 Điều 26 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định điều kiện xét miễn, giảm đối với người phải thi hành án phải “đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch” là bắt buộc. Do vậy, nếu người phải thi hành án chưa thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, thì chưa đủ điều kiện xét miễn, giảm thi hành án. Chính vì thế, đối với các trường hợp mà người phải thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước trên 5.000.000 đồng không thực hiện được việc xét miễn, giảm thi hành án vì người phải thi hành án quá nghèo, không thể thi hành được 1/20 khỏan phải thi hành án, thì những hồ sơ này sẽ treo mãi tại cơ quan thi hành án mà không có hướng ra, không thể miễn, giảm được, dẫn đến án tồn đọng.



7. Chi phí thông báo về thi hành án dân sự và chi phí xác minh điều kiện thi hành án

Khoản 4 Điều 39 và khoản 1 Điều 44 Luật thi hành án dân sự quy định về chi phí thông báo thi hành án và chi phí xác minh điều kiện thi hành án, nhưng cho đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về nội dung, mức chịu, thủ tục thu, nộp khoản này. Do vậy, cơ quan thi hành án dân sự chưa có cơ sở thu chi phí xác minh của người được thi hành án.



8. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án gắn liền với tài sản của người khác

- Thực tế hiện nay trong hoạt động thi hành án có vướng mắc, đó là việc phải xử lý nhà ở của người phải thi hành án được xây dựng trên đất của người khác. Trong nhiều trường hợp, người phải thi hành án chỉ có tài sản duy nhất là ngôi nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng nằm trên đất mượn, cơ quan thi hành án dân sự đã tiến hành kê biên ngôi nhà để bảo đảm thi hành án, nhưng hầu như không thể xử lý tiếp được. Trong khi đó, Luật nhà ở không cấm chủ sở hữu nhà đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu tham gia các giao dịch. Khi các giao dịch này được thực hiện, phát sinh tranh chấp, sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án thường gặp phải khó khăn nêu trên.

Trường hợp khác cơ quan thi hành án cũng gặp phải khó khăn tương tự đó là việc xử lý quyền sử dụng đất nhưng trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác. Đây là tình huống mà cơ quan thi hành án thường xuyên gặp phải trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định mà để xử lý được thì mất nhiều thời gian, chi phí.

- Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở: Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2005 đăng ký là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của sự chuyển quyền sở hữu hoặc sử dụng tài sản, nhưng cũng theo quy định tại Điều 168, nguyên tắc này sẽ bị loại trừ nếu trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo Khoản 5 Điều 93 Luật nhà ở thì quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng. Như vậy, nhà ở cũng là một trong những loại tài sản thuộc diện loại trừ của Điều 168 Bộ luật dân sự vì theo quy định trên quyền sở hữu đối với nhà ở được chuyển kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng. Vấn đề đặt ra là: nếu như có trường hợp chủ sở hữu nhà là người phải thi hành án đã tiến hành bán ngôi nhà đó, hợp đồng bán nhà đã được công chứng tại Phòng công chứng, nhưng người mua chưa làm thủ tục sang tên đối với ngôi nhà đó. Nếu theo Bộ luật dân sự và Luật đất đai thì quyền sử dụng đất chưa được chuyển giao cho người mua (vì chưa đăng ký), nhưng nếu theo Khoản 5 Điều 93 Luật nhà ở thì ngôi nhà đã được chuyển quyền sở hữu cho người mua. Trường hợp đó, cơ quan thi hành án dân sự xử lý ngôi nhà trên để thi hành án gặp phải sự phản ứng gay gắt của đương sự, cũng như sự vướng mắc giữa các quy định của pháp luật.

- Khoản 1, Điều 89 Luật thi hành án dân sự quy định: " Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu..., Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch, đăng ký" và tại khoản 1 Điều 111 có quy định: "Khi kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự". Theo Bộ Luật dân sự và Luật đất đai năm 2003 thì thời điểm chuyển quyền sử dụng đất được tính từ khi đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, trong khi đó Luật nhà ở năm 2005 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở được tính kể từ khi hợp đồng mua bán được công chứng, chứng thực. Như vậy, nếu không xác định rõ phải áp dụng quy định nào để thực hiện kê biên tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên rất dễ bị khiếu nại, có nguy cơ dẫn đến phải bồi thường. Ví dụ như: Việc kê biên nhà ở sau khi đã có hợp đồng mua bán được công chứng: Nếu người phải thi hành án là người mua nhà thì sau khi kê biên, có thể bị người bán nhà khiếu nại vì giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở vẫn còn thuộc người bán nhà. Hoặc là, nếu người phải thi hành án là người bán nhà thì sau khi kê biên, người mua nhà sẽ căn cứ vào hợp đồng mua bán đã công chứng để xác định nhà đã thuộc quyền sở hữu của họ theo Luật nhà ở và dẫn đến khiếu nại. Nếu không kê biên nhà đất của người phải thi hành án (trường hợp vẫn còn giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, dù nhà đã bán và có công chứng) thì người được thi hành án sẽ khiếu nại vì cho rằng Chấp hành viên tạo điều kiện cho người phải thi hành án tẩu tán tài sản.

9. Bảo đảm quyền ưu tiên mua tài sản chung

Theo Điều 74 của Luật thì trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế. Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án. Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

Tuy nhiên, Luật thi hành án dân sự không quy định cụ thể về điều kiện bán tài sản, cách thức thực hiện quyền ưu tiên mua, bán tài sản chung, trong khi đó quyền định đoạt tài sản chung được quy định tại Điều 223 Bộ luật dân sự năm 2005 nhưng cũng không cụ thể. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Toà án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

Trước đây, tại điểm d khoản 1 mục IV Thông tư liên tịch số 12/2001/TTLT-BTP-VKSTC ngày 26/02/2001 của Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quy định: “Trước khi bán đấu giá tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, các đồng sở hữu được quyền ưu tiên mua lại tài sản trong thời hạn ba tháng đối với bất động sản, một tháng đối với động sản theo giá Hội đồng định giá tài sản đã định. Hết thời hạn ưu tiên mà các đồng sở hữu không mua thì tài sản được bán đấu giá theo thủ tục chung”. Tuy nhiên, kể từ ngày 15/9/2010 theo quy định tại Điều 11 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự” thì Thông tư liên tịch số 12/2001/TTLT-BTP-VKSTC ngày 26/02/2001 của Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã bị Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 nêu trên thay thế, nhưng không quy định về nội dung này.

Do đó, cần quy định việc bán tài sản chung quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật thi hành án dân sự 2008 thực hiện theo Điều 223 Bộ luật dân sự năm 2005 và quy định cụ thể theo hướng trước khi thực hiện việc bán tài sản chung trong thi hành án dân sự, nhất là tài sản cưỡng chế kê biên đảm bản thi hành án, nhằm hạn chế khiếu nại, tố cáo và bảo đảm việc bán tài sản chung công khai, đúng pháp luật, cơ quan thi hành án căn cứ Điều 233 Bộ luật dân sự năm 2005 cần yêu cầu người phải thi hành án, người được thi hành án thống nhất giá bán tài sản chung và các điều kiện khác về bán tài sản để thông báo cho người có có tài sản chung với người phải thi hành án thực hiện quyền ưu tiên mua tài sản trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán (cần nêu rõ giá bán tài sản, thời hạn ưu tiên mua, nếu tài sản không bán được thì sẽ được hạ giá để bán.v.v.). Trường hợp các đương sự thống nhất việc bán tài sản cho chủ sở hữu chung theo giá khởi điểm mà không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thứ ba, thì chủ sở hữu chung được ưu tiên mua tài sản theo giá khởi điểm. Trường hợp các đương sự không thống nhất bán tài sản cho chủ sở hữu chung theo giá khởi điểm hoặc có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thứ ba, vi phạm pháp luật, thì không có cơ sở ưu tiên bán cho chủ sở hữu chung tài sản theo giá khởi điểm. Trường hợp nhiều chủ sở hữu chung muốn mua tài sản, thì phải được sự đồng ý của những chủ sở hữu chung khác. Hết thời hạn ưu tiên mà không có chủ sở hữu nào mua, thì cơ quan thi hành án tổ chức việc bán đấu giá tài sản theo quy định chung để bảo đảm thi hành án.



10. Định giá tài sản đã kê biên

Luật thi hành án dân sự quy định về định giá tài sản trong thi hành án dân sự chưa đầy đủ, có một số vướng mắc cần được quy định một số nội dung sau:



- Về việc Chấp hành viên xác định giá tài sản kê biên

Khi xác định giá đối với tài sản kê biên theo khoản 3 Điều 98 Luật thi hành án dân sự và Điều 15 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ, Chấp hành viên cần lưu ý:

Trường hợp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên chưa có tổ chức thẩm định giá, thì Chấp hành viên yêu cầu đương sự thoả thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá ở địa bàn khác. Nếu đã yêu cầu mà đương sự không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì Chấp hành viên tiến hành xác định giá tài sản kê biên theo quy định.

Việc tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan trước khi xác định giá tài sản kê biên theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP cần được thực hiện bằng văn bản. Trường hợp cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn không có ý kiến theo đề nghị của Chấp hành viên thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo, đề nghị Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan nói trên có ý kiến để Chấp hành viên xác định giá tài sản kê biên.



- Về bảo đảm quyền yêu cầu định giá lại tài sản kê biên

Trường hợp đương sự có yêu cầu định giá lại tài sản kê biên trước khi có thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 99 Luật thi hành án dân sự (không phân biệt bán đấu giá tài sản lần thứ mấy), thì Chấp hành viên tổ chức định giá lại tài sản kê biên. Chấp hành viên thông báo cho đương sự biết về việc người yêu cầu định giá lại phải chịu chi phí định giá lại tài sản theo quy định của pháp luật.



- Lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản kê biên trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự

Nếu đương sự có thoả thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó. Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn là tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên hoặc tổ chức thẩm định giá trên địa bàn khác. Việc thoả thuận của đương sự về lựa chọn tổ chức thẩm định giá cũng được thực hiện đối với việc định giá lại tài sản kê biên.

Các trường hợp khác, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ thẩm định giá với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc TW nơi có tài sản kê biên.

- Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về định giá tài sản kê biên

Trường hợp khiếu nại việc xác định giá tài sản của Chấp hành viên và khiếu nại về hành vi của Chấp hành viên trong việc ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá (như: thời hạn, trình tự, thủ tục ký hợp đồng v.v.) thì được giải quyết theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Khiếu nại (tranh chấp) về kết quả định giá tài sản của tổ chức thẩm định giá được giải quyết theo pháp luật về thẩm định giá. Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 03/8/2005 của Chính phủ về thẩm định giá và Thông tư số 17/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 101/2005/NĐ-CP quy định: Tổ chức thẩm định giá chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp và kết quả thẩm định giá. Việc xử lý tranh chấp về kết quả thẩm định giá thực hiện theo Điều 23 Nghị định số 101/2005/NĐ-CP nêu trên.

Như vậy, đối với những khiếu nại về kết quả thẩm định giá tài sản hoặc hành vi, quyết định của tổ chức thẩm định giá thì cơ quan thi hành án dân sự không thụ lý giải quyết. Nếu đương sự không đồng ý với kết quả thẩm định giá do tổ chức thẩm định giá đưa ra và yêu cầu định giá lại tài sản kê biên trước khi thông báo công khai việc bán đấu giá, thì Chấp hành viên tổ chức định giá lại theo quy định.



11. Xử lý tài sản bán đấu giá không thành

Điều 100 của Luật thi hành án dân sự về giao tài sản để thi hành án quy định: Trường hợp đương sự thoả thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thoả thuận; việc giao tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thoả thuận. Như vậy, theo Điều luật này thì việc giao tài sản để thi hành án phải có sự thỏa thuận của các bên đương sự. Tuy nhiên, Điều 104 Luật thi hành án dân sự về xử lý tài sản bán đấu giá không thành quy định như sau: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm giá không quá 10% giá đã định. Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án”.

Trong trường hợp này Luật thi hành án dân sự lại không quy định rõ là cần có thỏa thuận của các bên đương sự không hay chỉ cần người được thi hành án đồng ý là cơ quan thi hành án thực hiện việc giao tài sản cho người đó để khấu trừ tiền thi hành án. Trong khi đó, hiện nay các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thi hành án dân sự cũng không quy định cụ thể thêm về vấn đề này. Do vậy, trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án đồng ý nhận tài sản bán đấu giá không thành, nhưng người phải thi hành án không đồng ý giao, thì chưa có sở pháp lý để giao tài sản đó cho người được thi hành án.

Vì thế, tài sản bán đấu giá không thành, Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá, khi đó người được thi hành án được tham gia mua đấu giá tài sản như những người khác. Nếu chỉ có người được thi hành án tham gia mua đấu giá tài sản, thì thực hiện việc bán đấu giá tài sản trong trường hợp chỉ có một người tham gia đấu giá theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản: “Trong trường hợp đã hết thời hạn đăng ký tham gia đấu giá tài sản mà chỉ có một người đăng ký mua tài sản bán đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham gia cuộc bán đấu giá và trả giá ít nhất bằng giá khởi điểm thì tài sản được bán cho người đó, nếu người có tài sản bán đấu giá đồng ý. Việc bán tài sản trong trường hợp này chỉ được tiến hành sau khi đã thực hiện đầy đủ việc niêm yết, thông báo công khai, trưng bày tài sản và không có khiếu nại liên quan đến trình tự, thủ tục cho đến khi quyết định bán tài sản”.

Trường hợp đương sự thoả thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì căn cứ Điều 100 Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên lập biên bản về việc thoả thuận. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản phải được sự đồng ý của những người được thi hành án khác và phải thanh toán lại cho những người được thi hành án khác số tiền tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng. Việc giao tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thoả thuận.

Tuy nhiên, trường hợp người phải thi hành án không nhận tài sản để thi hành án hoặc người phải thi hành án không đồng ý cho người được thi hành án nhận tài sản khi tài sản đã giảm đến mức thấp hơn chi phí cưỡng chế thi hành án, thì vẫn phải tổ chức hạ giá, bán tài sản là không khả thi.

Vì thế, cần sửa đổi quy định về bán đấu giá tài sản theo hướng sau khi giảm giá một số lần (03 lần) mà không có người mua thì giao tài sản kê biên cho người được thi hành án để trừ vào số tiền được thi hành án; nếu người được thi hành án không nhận thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án.

12. Về thi hành quyết định về tuyên bố phá sản

Theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp, khi có quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán phụ trách vụ việc ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Tổ quản lý, thanh lý tài sản áp dụng các quy định của Luật phá sản và pháp luật về thi hành án dân sự. Tuy nhiên, hiện nay nhiều vụ việc phá sản tồn đọng, không giải quyết dứt điểm được do nhiều nguyên nhân khác nhau như không xác định được địa chỉ, chủ thể là con nợ của doanh nghiệp phá sản cũng như chủ nợ của các doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản vì những thông tin này trong danh sách mà toà án cung cấp rất chung chung hoặc thông tin đã lạc hậu.... Đối với những trường hợp đã có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, chuyển sang giai đoạn thi hành án thì những vướng mắc tương tự cũng không khắc phục được.

Để phần nào khắc phục được những vướng mắc này, Toà án có thẩm quyền, Tổ quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản doanh nghiệp cần xác minh, tìm hiểu và lập hồ sơ về danh sách các chủ nợ, con nợ của doanh nghiệp một cách chi tiết, đầy đủ. Mặt khác, đối với những quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp, cần có sự rà soát, đánh giá lại để tìm ra những bất cập, hạn chế nhằm sớm sửa đổi, hoàn thiện, bảo đảm việc áp dụng trên thực tế được hiệu quả hơn.

13. Cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác

Theo quy định tại Điều 75 Luật Thi hành án dân sự: "Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết". Thực tế cho thấy rất nhiều trường hợp đương sự thực hiện khởi kiện tại Toà án theo hướng dẫn của Chấp hành viên, nhưng Toà án không thụ lý vụ việc, trong khi đó cũng theo Điều 75 Luật thi hành án dân sự năm 2008 thì Chấp hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền. Việc Toà án không thụ lý trong trường hợp này dẫn đến hậu quả khó xử lý tài sản đã kê biên, vì không thể xác định được quyền sở hữu tài sản mà Chấp hành viên đã tiến hành kê biên. Do đó, trong trường hợp này, Bộ luật Tố tụng dân sự cần có Điều luật quy định cụ thể về thời hạn, căn cứ, lý do cho việc thụ lý hay không thụ lý và bổ sung vào loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án trong Bộ luật Tố tụng dân sự.

Mặc dù Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối để xác định 3 trường hợp đề nghị Tòa án xác định hoặc xác lập quyền sở hữu, sử dụng tài sản và tranh chấp tài sản đã kê biên, nhưng Bộ luật tố tụng dân sự chưa quy định cụ thể loại vụ việc này thuộc thẩm quyền gaiir quyết của Tòa án.

14. Cưỡng chế đối với tài sản kê biên là quyền sở hữu trí tuệ

Một trong những quy định mới của Luật thi hành án dân sự là cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định tại Điều 16 chưa hướng dẫn về trình tự thủ tục, phương pháp định giá quyền sở hữu trí tuệ (theo yêu cầu tại khoản 2 Điều 85 Luật Thi hành án dân sự); quy định tại Điều 17 chưa hướng dẫn về trình tự, thủ tục bán đấu giá trong khi loại tài sản này cần phải có quy định riêng, không thể thực hiện như các loại tài sản hữu hình khác. Tương tự, việc kê biên quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện Điều 84 Luật thi hành án dân sự cũng cần phải có hướng dẫn cụ thể vì trong quyền sở hữu trí tuệ có rất nhiều loại như tác phẩm, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, bằng sáng chế..., trong đó mỗi loại có quyền nhân thân, quyền tài sản. Với sự đa dạng và phức tạp của quyền sở hữu trí tuệ, nếu không có hướng dẫn cụ thể thì Chấp hành viên (là người chưa có hiểu biết nhiều và chưa có kinh nghiệm về quyền sở hữu trí tuệ) rất dễ nhầm lẫn, sai sót, có thể dẫn đến bồi thường. Vì thế, cần quy định chi tiết, cụ thể hơn.



15. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án

Điểm b khoản 2 Điều 47 Luật thi hành án dân sự quy định: “Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó. Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán”.

Quy định này chưa cụ thể, dẫn đến 02 các hiểu khác nhau:

- Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó, nghĩa là chỉ những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế nhưng quyết định cưỡng chế đó phải căn cứ theo đơn yêu cầu thi hành án của họ mới được thanh toán. Đối với những người được thi hành án không thuộc quyết định cưỡng chế đó, mặc dù đã có đơn yếu cầu thi hành án trước khi có quyết định cưỡng chế, thì không được ưu tiên thanh toán.

- Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó, nghĩa là thanh toán cho tất cả những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó, không phụ thuộc vào việc đơn yêu cầu thi hành án có phải là căn cứ để cưỡng chế hay không.

16. Lãi chậm thi hành án

a) Về mức lãi suất chậm thi hành án

Luật thi hành án dân sự năm 2008 không quy định về lãi phát sinh do chậm thi hành án, tuy nhiên đây là một nghĩa vụ dân sự được quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005.

Trước đây, là khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự năm 1995 và khoản 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính quy định lãi chậm thi hành án tính theo mức “lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định”. Hiện nay, mức lãi này là “lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố” quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005 và Công văn số 165/KHXX ngày 18/10/2007 của Tòa án nhân dân tối cao.

Thực tế, nhiều trường hợp bản án, quyết định trước thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực có tuyên lãi chậm thi hành án theo mức “lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước quy định” đến nay chưa thi hành xong, thì việc tính lãi theo mức mới hay vẫn phải thi hành đúng nội dung bản án.



b) Về thời điểm tính chậm thi hành án

Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 này không quy định rõ trong trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu phần tiền gốc mà chưa yêu cầu thi hành án đối với khoản lãi chậm thi hành án, thì thi hành như thế nào. Do đó, sau khi trao đổi, thống nhất với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, ngày 24/02/2005 Bộ Tư pháp đã có Công văn số 404/TP-THA hướng dẫn tại điểm 1.3 mục 1 về ra quyết định thi hành án đối với khoản lãi suất chậm thi hành án và mục 14 về việc tính lãi suất chậm thi hành án, song ngày 27/4/2009 Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 861/QĐ-BTP hủy bỏ Công văn số 404/TP-THA nêu trên.

Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào thay thế hoặc hủy bỏ Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997, nên Thông tư này vẫn được áp dụng, trừ những nội dung không còn phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó như quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005 thay cho “lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước quy định” theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự năm 1995).

Vì vậy, cách xác định thời điểm tính lãi phát sinh do chậm thi hành án hiện nay căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005, Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997, Công văn số 165/KHXX ngày 18/10/2007 của Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thanh toán. Khi tính lãi chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành án, mà không tính lãi của số tiền chưa trả trong quá trình thi hành án.



c) Về phương thức thanh toán lãi suất chậm thi hành án

Trong trường hợp người phải thi hành thi hành nhiều lần thì phương thức thanh toán tiền lãi suất được thanh toán trừ trước hay thanh toán tiền gốc rồi mới thanh toán tiền lãi.



17. Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc

Điều 121 Luật thi hành án dân sự quy định về cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc, theo đó điểm mới là chấp hành viên có quyền đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người sử dụng lao động không chấp hành án, nhưng vì không có Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao nên nếu cơ quan thi hành án dân sự đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự thì cũng khó chấp nhận.

Do đó, cần có Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

18. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thu tiền thi hành án

Khoản 3 Điều 180 Luật thi hành án dân sự quy định cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành dân sự thu tiền thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thời gian quan, khi cơ quan thi hành án dân sự có văn bản phối hợp và cử cán bộ đến các trại giam, trại tạm giam xác minh tiền lưu ký, thu tiền thi hành án thì các trại giam, trại tạm giam cho biết chưa có văn bản hướng dẫn của Bộ Công an, đồng thời yêu cầu phải có giấy giới thiệu của Bộ Công an, mới thực hiện. Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của người được thi hành án, quyền của người phải thi hành án (trong các đợt xét đặc xá, xét giảm thời gian chấp hành hình phạt tù cho các phạm nhân), gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự, nhất là các trại giam, trại tạm giam không đóng trên cùng một địa bàn tỉnh.



19. Tương trợ tư pháp về thi hành án dân sự

Khoản 3 Điều 126 Luật thi hành án dân sự quy định đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định trường hợp cơ quan ban hành giấy tờ có trụ sở ở nước ngoài thì thực hiện trả lại giấy tờ như thế nào.

Mặt khác, Điều 181 Luật thi hành án dân sự quy định tương trợ tư pháp về thi hành án như sau:

1. Việc yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án, việc tiếp nhận và xử lý uỷ thác tư pháp về thi hành án của nước ngoài trong quá trình thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.



2. Cơ quan thi hành án dân sự có yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án phải lập hồ sơ uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp”.

Việc thi hành án dân sự đối với bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài hiện nay pháp Luật thi hành án dân sự hiện hành chưa có quy định cụ thể thủ tục uỷ thác tư pháp quốc tế về thi hành án dân sự hoặc việc xác minh điều kiện thi hành án và thực hiện việc thi hành án tại nước ngoài như thế nào. Do đó, việc chỉ đạo về thi hành án đối với người nước ngoài có khó khăn.

Do đó, cần quy định cụ thể về ủy thác tư pháp trong thi hành án dân sự, trong đó lưu ý:

- Trong trường hợp cơ quan ban hành giấy tờ có trụ sở ở nước ngoài thì thực hiện tương trợ tư pháp. Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp và các tài liệu kèm theo được dịch ra ngôn ngữ quy định tại Điều 5 Luật Tương trợ tư pháp và gửi tới Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp đề nghị uỷ thác cho cơ quan có thẩm quyền.

- Đối với trường hợp bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, ngươì phải thi hành án là người nước ngoài, đang cư trú ở nước ngoài có địa chỉ rõ ràng. Cơ quan thi hành án cần gửi 03 bộ hồ sơ thi hành án (01 bản gốc và 02 bản sao) kèm công văn đề nghị Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ tới cơ quan có thẩm quyền (nơi người phải thi hành án cư trú) để tiếp tục thi hành bản án.

20. Về Thừa phát lại

Hiện nay, tổ chức Thừa phát lại đã được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù đang ở giai đoạn thí điểm hoạt động nhưng đã bước đầu thực hiện vai trò xã hội hoá công tác thi hành án dân sự theo đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước. Để nâng cao vị trí vai trò hoạt động của tổ chức Thừa phát lại cần bổ sung vào Dự án Luật các quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa Phát lại .

Từ những lý do nêu trên, việc Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự là một đòi hỏi khách quan và cấp thiết nhằm góp phần khắc phục những hạn chế bất cập của pháp luật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác quản lý điều hành đất nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

Chính sách cơ bản, mục tiêu của chính sách

Dự án Luật được soạn thảo trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo sau đây.

1. Tiếp tục thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính và cải cách tư pháp nhằm phát triển đội ngũ cán bộ công chức ngành Thi hành án về số lượng và chất lượng, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phù hợp với định hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc và Chiến lược, Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Quy định đầy đủ và toàn diện các vấn đề về thi hành án dân sự nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế của hệ thống pháp luật liên quan đến thi hành án dân sự, đồng thời tiếp tục bổ sung những quy định còn thiếu, giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong công tác thi hành án dân sự.

3. Tăng cường các biện pháp, cơ chế để bảo đảm tính công bằng, công khai và minh bạch trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Tăng cường trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của cán bộ công chức ngành thi hành án dân sự, đặc biệt là tuân thủ pháp luật, giữ gìn đạo đức nguyên tắc nghề nghiệp, kỷ luật hành nghề nâng cao vị trí, vai trò của hoạt động thi hành án dân sự trong xã hội.

5. Thực hiện xã hội hoá công tác thi hành án dân sự, nâng cao vai trò của tổ chức Thừa phát lại, bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với hoạt động Thi hành án dân sự, phân định rõ và hợp lý giữa công tác quản lý nhà nước về thi hành án dân sự và chế độ tự quản của tổ chức Thừa phát tại.

Phạm vi điều chỉnh

Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự là Dự án Luật sửa đổi bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2008, theo đó điều chỉnh những vấn đề cơ bản như: Phạm vi điều chỉnh. Bản án, quyết định được thi hành. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tổ chức trong thi hành án dân sự, Thủ tục thi hành án dân sự. Biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án, một số trường hơp thi hành án cụ thể.



Những nội dung chính của dự án Luật

Dự án Luật dự kiến điều chỉnh những nội dung cơ bản sau đây.



1. Phạm vi điều chỉnh: Bổ sung quy định về thi hành bản án, quyết định hành chính, phù hợp với quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

2. Chức năng kiểm sát việc thi hành án của Viện kiểm sát. Dự án Luật sửa đổi theo hướng bỏ nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát của Viện kiểm sát đổi với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành án.

3. Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự.

- Bổ sung các quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa Phát lại.

- Bổ sung các quy định về quản lý nhà nước đối với tổ chức Thừa Phát Lại trên tinh thần của Nghị định 61/NĐ-CP và theo hướng tăng cường quản lý nhà nước , vừa bảo đảm sự hoạt động độc lập của tổ chức Thừa Phát Lại.

4. Về thủ tục thi hành án dân sự.

- Bổ sung quy định trách nhiệm chứng minh của đương sự về việc không khởi kiện tại Toà án đối với Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về xác minh điều kiện thi hành án theo hướng: Trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu, người được thi hành án tự xác minh điều kiện thi hành án hoặc yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh, việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản. Quy định này vừa bảo đảm quyền của người dân, đồng thời quy định trách nhiệm của Chấp hành viiên trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao. Mặt khác, bổ sung quy đinh về biện pháp xử lý trong trường hợp Chấp hành viên đã hướng dẫn nhưng người được thi hành án vẫn không cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án hoặc không yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án.

- Bổ sung quy định về chủ động ra quyết định thi hành án đối với khoản “lệ phí” của Toà án.

- Sửa đổi quy định chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án đối với doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá, theo đó doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp là công ty cổ phần tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án

- Sửa đổi quy định việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án theo hướng: Trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó thì Chấp hành viên tổ chức định giá tài sản theo quy định tại Điều 98 của Luật này để thi hành án bằng tiền tương ứng với tỷ lệ giá trị tài sản được chia tại thời điểm thi hành án.

- Sửa đổi quy định về điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo hướng bỏ điều kiện “người phải thi hành án đã thi hành được một phần (1/20) khoản thu nộp ngân sách nhà nước” mà không có tài sản để thi hành án thì có thể được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ.

- Bổ sung quy định về kê biên tài sản gắn liền với đất.

- Sửa đổi quy định việc bán tài sản chung tại khoản 3 Điều 74 Luật thi hành án dân sự 2008 theo hướng trước khi thực hiện việc bán tài sản chung trong thi hành án dân sự, yêu cầu người phải thi hành án, người được thi hành án thống nhất giá bán tài sản chung và các điều kiện khác về bán tài sản để thông báo cho người có có tài sản chung với người phải thi hành án thực hiện quyền ưu tiên mua tài sản nhằm hạn chế khiếu nại, tố cáo và bảo đảm việc bán tài sản chung công khai, minh bạch.

- Sửa đổi Điều 98 luật Thi hành án dân sự, theo hướng không hạn chế tổ chức thẩm định giá theo địa bàn, lãnh thổ để thực hiện ký hợp đồng thẩm định giá với Chấp hành viên.

- Sửa đổi quy định về giao tài sản về thi hành án và xử lý tài sản bán đấu giá không thành theo hướng sau khi giảm giá một số lần (03 lần) mà không có người mua thì giao tài sản kê biên cho người được thi hành án để trừ vào số tiền được thi hành án; nếu người được thi hành án không nhận thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án.

- Bổ sung quy định về thứ tự thanh toán tiền thi hành án theo hướng: chỉ những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế nhưng quyết định cưỡng chế đó phải căn cứ theo đơn yêu cầu thi hành án của họ mới được ưu tiên thanh toán trước.

- Bổ sung quy định về lãi chậm thi hành án, theo đó quy định cụ thể mức lãi suất chậm thi hành án, thời điểm tính chậm thi hành án, phương thức thanh toán lãi suất chậm thi hành án.

- Bổ sung quy định về thủ tục uỷ thác tư pháp quốc tế về thi hành án dân sự hoặc việc xác minh điều kiện thi hành án và thực hiện việc thi hành án tại nước ngoài

- Sửa đổi quy định về trường hợp hoãn thi hành án theo hướng bỏ yêu cầu tự mình thực hiện thi hành án đối với người phải thi hành án, do đó quy định: Người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên … hoặc vì lý do chính đáng mà người phải thi hành án không thể thực hiện được nghĩa vụ theo bản án, quyết định.

5. Thi hành án trong một số trường hợp cụ thể

Bổ sung Mục: Thi hành bản án, quyết định hành chính.



6. Về quản lý nhà nước

Dự án quy định theo hướng nâng cao vai trò quản lý nhà nước, phát huy vai trò tự quản của tổ chức Thừa phát lại đối với hoạt động thi hành án dân sự. Đồng thời phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, danh giới trách nhiệm của các cơ quan thi hành án và tổ chức Thừa phát lại; quan hệ phối hợp hoạt động của các cơ quan thi hành án với tổ chức Thừa phát Lại nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thi hành án dân sự, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.



Dự kiến nguồn lực và các điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo Luật

- Kinh phí: ngân sách nhà nước.

- Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ chủ trì việc soạn thảo Dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Tổng cục Thi hành án dân sự chủ trì giúp Bộ Tư pháp thực hiện.

1   ...   30   31   32   33   34   35   36   37   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương