A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang21/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   ...   17   18   19   20   21   22   23   24   ...   47

19. Luật khí tượng thủy văn


Thuộc Chương trình chuẩn bị năm 2012.

20. Luật môi trường


Sự cần thiết ban hành

Luật bảo vệ môi trường 2005 được ban hành là bước đột phá quan trọng, đánh dấu sự nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề môi trường trước những tác động không tránh khỏi của cơ chế thị trường. Qua 5 năm áp dụng, Luật đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ chất lượng môi trường sống tại Việt Nam nói riêng, trong khu vực và thế giới nói chung. Vai trò của Luật bảo vệ môi trường đã góp phần hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường từ các hoạt động phát triển; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong dân chúng; nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với vấn đề môi trường; tạo ra những định hướng ban đầu cho việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững.

Tuy nhiên, so với những yêu cầu mới, Luật bảo vệ môi trường hiện hành còn khá nhiều điểm bất cập. Ở mức độ khái quát nhất, có thể thấy công tác bảo vệ môi trường trong thời gian tới chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, đòi hỏi Luật bảo vệ môi trường phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung kịp thời cho phù hợp hơn với tình hình thực tế. Các tác động đó là: quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xu thế hội nhập kinh tế quốc tế; chủ trương cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh tế; sự thay đổi cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường; hiệu lực, hiệu quả điều chỉnh thực tế của hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường hiện hành trong thời gian qua.

Kinh nghiệm của các nước cũng như ý kiến của các chuyên gia môi trường cho thấy, ở một nước đang phát triển như Việt Nam, nếu không có các giải pháp bảo vệ môi trường hợp lý kịp thời thì với tốc độ tăng trưởng kinh tế gấp hơn 2 lần trong giai đoạn vừa qua, mức độ ô nhiễm, suy thoái môi trường có thể đã tăng khoảng 4 - 5 lần. Điều đó có nghĩa là chúng ta đi lặp lại vết chân của các nước công nghiệp phát triển vào những năm 50 - 60 của Thế kỷ trước và họ đang phải trả giá rất đắt cho những sai lầm vì chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà không có các giải pháp bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, với tầm nhìn chiến lược, Đảng và Nhà nước ta đã dự báo tình hình và hoạch định những chủ trương, chính sách phù hợp, kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường nên quá trình phát triển ở nước ta trong giai đoạn tới theo chiều hướng thuận lợi cho sự nghiệp phát triển bền vững đất nước.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì chỉ đạo một số cơ quan có liên quan thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Công An, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội và một số cơ quan khác chuẩn bị tổ chức nghiên cứu, đánh giá việc thi hành Luật bảo vệ môi trường năm 2005.

Từ kết quả nghiên cứu đánh giá việc thi hành của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, nghiên cứu đề xuất xây dựng Luật môi trường dựa trên những nội dung cơ bản của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 theo hướng mở rộng hơn; bổ sung vào Luật những điều khoản liên quan đến quản lý môi trường các lưu vực sông, làng nghề, khu công nghiệp, môi trường nông thôn, môi trường miền núi,…; xem xét việc luật hóa các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu; sắp xếp các nội dung theo hướng hệ thống, toàn diện và logic hơn trong Luật mới.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Phạm vi điều chỉnh: Quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; phòng ngừa các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra đối với môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường.

Đối tượng áp dụng: cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.

Những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính

Phương pháp điều chỉnh của Luật bảo vệ môi trường là những cách thức tác động của luật đến các quan hệ xã hội nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Căn cứ vào các quy định của Luật bảo vệ môi trường hiện hành, ta thấy các phương pháp điều chỉnh chủ yếu là phương pháp “mệnh lệnh - kiểm tra” kết hợp với giáo dục và thuyết phục. Việc chỉ sử dụng các phương pháp trên có một số bất cập, khiến cho hoạt động bảo vệ môi trường bị thụ động và đôi khi biểu hiện sự cứng nhắc.

Khi đối tượng điều chỉnh của Luật được đề xuất sửa đổi, bổ sung thì phương pháp điều chỉnh của Luật cũng cần được sửa đổi cho phù hợp với nội dung và tính chất của đối tượng điều chỉnh, đặc biệt là việc khắc phục các yếu điểm và nâng cao hiệu lực thực tế của Luật.

Bên cạnh các biện pháp “mệnh lệnh - kiểm tra” kết hợp với tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, một số biện pháp khác như sử dụng công cụ kinh tế, tăng cường vai trò của cộng đồng trong công tác kiểm tra, giám sát thực hiện Luật.

Từ những phân tích trên, các quy phạm về bảo vệ môi trường được quy định tại Luật bảo vệ môi trường 2005 còn một số bất cập:

- Một số quy phạm tỏ ra không còn phù hợp với hiện thực khách quan hiện nay làm mất hiệu lực hoặc giảm hiệu lực thi hành của Luật;

- Còn thiếu một số quy phạm cần được bổ sung như quy định về đầu tư bảo vệ môi trường, sử dụng các công cụ kinh tế, tăng cường sự tham gia của các tổ chức quần chúng, đáp ứng các yêu cầu môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế v.v.

- Một số quy định chưa được rõ ràng, khó hiểu hoặc thiếu cụ thể cần thiết hoặc quá cụ thể gây khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn;

- Việc phân công, phân nhiệm, phân cấp quản lý môi trường chưa phù hợp và chưa rõ đã gây khó khăn trong việc thực hiện và phối hợp thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường;

- Một số thuật ngữ chưa được quy định cách hiểu đúng, hoặc chưa được quy định cách hiểu nên gây khó khăn hoặc hiểu sai khi vận dụng trong thực tiễn công tác bảo vệ môi trường;

- Một số quy phạm còn trùng lắp, đặt không đúng vị trí hoặc không có sự kết nối gây khó khăn trong việc hướng dẫn thực hiện;

- Một số quy phạm sử dụng thuật ngữ chung chung, thiếu cương quyết, không rõ ràng, dễ hiểu sai lệch;

- Nhiều chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, cơ cấu tổ chức mới chưa được luật hoá hoặc cập nhật trong Luật bảo vệ môi trường.

Nội dung chính

Với những nhận xét trên, đề nghị sửa đổi, bổ sung một số quy phạm như sau:

Bỏ một số quy phạm không còn phù hợp hoặc thiếu hiệu lực (quy định về đánh giá tác động môi trường đối với các cơ sở đang hoạt động; v.v…)

Bổ sung thêm một số ý, chuẩn lại các nội dung, câu chữ của một số điều;

Bổ sung các điều mới nhằm luật hoá các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước về môi trường và phát triển bền vững. Cụ thể cần có điều về phát triển bền vững, xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, lồng ghép môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá môi trường, đạo đức môi trường, môi trường với hội nhập kinh tế quốc tế, an ninh sinh thái, v.v..;

Bổ sung các quy phạm về phân công, phân nhiệm, phân cấp quản lý Nhà nước về môi trường; quy định về nội dung và tổ chức quản lý môi trường cấp huyện, xã;

Bổ sung thêm các quy định về đầu tư bảo vệ môi trường, tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường;

Bổ sung quy định về tiêu chuẩn môi trường, chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường;

Bổ sung quy định về sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường (thuế, phí, quỹ, quota ô nhiễm, nhãn sinh thái, v.v.);

Bổ sung quy định về tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường;

Bổ sung thêm các quy định về:

- Quy hoạch môi trường, đánh giá tác động môi trường đối với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quy định về giám sát, kiểm tra sau phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường; giao Chính phủ quy định chi tiết về phân loại đánh giá tác động môi trường, phân công, phân cấp về thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường, về xã hội hóa;

- Quy định về phế liệu, nhập khẩu phế liệu, tái sử dụng chất thải, tái chế chất thải; chôn lấp và tiêu huỷ chất thải; quản lý chất thải nguy hại;

- Quy định về giữ gìn cảnh quan môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái gắn với quản lý tài nguyên; quản lý các sản phẩm biến đổi gen, bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học, quản lý các vùng đất ngập nước; v.v.;

- Quy định về tự giám sát, quan trắc môi trường, định kỳ báo cáo về công tác bảo vệ môi trường cho các cơ quan chức năng, cung cấp thông tin môi trường, công khai thông tin môi trường v.v; khiếu nại, tổ cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo;

- Quy định về nội luật hoá các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, quy định về tranh chấp môi trường có yếu tố nước ngoài v.v.

Bổ sung quy định về chế tài, đặc biệt là chế tài hình sự đối với các hành vi được xem là tội phạm môi trường;

Quy định rõ hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, bổ sung một số nội dung về thu phí bảo vệ môi trường, v.v,

Quy định về quản lý môi trường đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở; quản lý môi trường trong các doanh nghiệp v.v.

Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan.


1   ...   17   18   19   20   21   22   23   24   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương