Đề tài phân tích thực trạng kinh doanh xuất khẩu cà phê nhân của các doanh nghiệP



tải về 0.76 Mb.
trang12/20
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích0.76 Mb.
1   ...   8   9   10   11   12   13   14   15   ...   20

3.1.4.2. Nhân tố bên trong


  • Các chính sách của Trung ương về sản xuất, xuất khẩu cà phê.

Từ sau năm 1986, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã xác định và xây dựng, hoàn thiện chiến lược mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực số1 của tỉnh.

Bên cạnh đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã kết hợp với hiệp hội Cà phê- Ca cao Việt Nam đã đề xuất lên Bộ Tài chính và các bộ ngành có liên quan xem xét việc giảm mức lệ phí cho cà phê cuất khẩu tử 0,5USD/ tấn xuống 0,2USD/ tấn.

Ủy ban Nhân dân tỉnh đã là việc với các ngân hàng thương mại trên địa bàn cung ứng vốn vay cho công tác thu mua của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu cà phê để đảm bảo nguồn cung hàng và kịp thời xuất bán những lúc giá cà phê tăng mạnh. Trong niên vụ 2008- 2009 các ngân hàng đã cung ứng cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh số vốn vay 877,38 tỷ đồng.

Những chính sách nêu trên sẽ tạo nhiều thuận lợi tăng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê của tỉnh.



  • Nguồn nhân lực các doanh nghiệp trong tỉnh

Trong chế biến: năm 2009, toàn tỉnh Đăk Lăk có 112 đơn vị chế biến cà phê nhân, trong đó có 18 doanh nghiệp nhà nước do Trung ương quản lý, 8 doanh nghiệp nhà nước do tỉnh quản lý, 3 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, 4 công ty chi nhánh ngoài tỉnh và 79 doanh nghiệp tư nhân.

Trong kinh doanh xuất khẩu: Hiện nay trong tỉnh có 14 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cà phê nhân, trong đó có: 1 doanh nghiệp trung ương ( công ty cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu ( XNK) cà phê Tây Nguyên) , 6 doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc tỉnh ( công ty XNK 2-9 Đăk Lăk, công ty cổ phần Đầu tư XNK Đăk Lăk, Công ty Cà phê Phước An, công ty Cà phê Thắng Lợi, công ty Cà phê Tháng 10 và Công ty Cà phê EaPôk), 4 doanh nghiệp tư nhân ( công ty TNHH Anh Minh, Công ty TNHH Thương mại Trúc Tâm, Công ty TNHH thương mại Nam Nguyệt, công ty XNK Đức Nguyên), 2 doanh nghiệp liên doanh nước ngoài ( công ty Liên doanh chế biến Cà phê XNK Man- Buôn Ma Thuột, công ty TNHH Cà phê Hà Lan- Việt Nam) và 1 chi nhánh của doanh nghiệp Tp. Hồ Chí Minh ( chi nhánh công ty cổ phần INTIMEX- Buôn Ma Thuột).

  • Khả năng tài chính của các doanh nghiệp trong tỉnh

Nhìn chung, khả năng năng tài chính của các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu khá ổn định. Tuy nhiên, vào một số thời điểm nguồn cung hoặc cầu về cà phê nhân tăng mạnh thì các doanh nghiệp khó xoay kịp vốn. Nhưng trong những năm gần đây, các doanh ngiệp đã được các ngân hành thương mại cung ứng vốn vay kịp thời theo sự chỉ đạo của UBND tỉnh.

  • Hệ thống cơ sở vật chất- kĩ thuật

Các doanh nghiệp chế biến và doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu trên địa bàn đã có sẵn cơ sở máy móc, thiết bị sản xuất cà phê nhân quy mô. 25 doanh nghiệp có nhà máy chế biến cà phê nhân theo công nghệ chế biến ướt, năng lực chế biến chiếm 20% sản lượng cà phê toàn tỉnh với tổng công suất chế biến hàng năm trên 300.000 tấn cà phê/ năm. Bên cạnh đó, công ty TNHH một thành viên Xuất nhập khẩu 2/ 9 đã xây dựng khu tổng kho và nhà máy tại khu công nghiệp Hòa Phú- Thành phố Buôn Ma Thuột với tổng trị giá 13 tỉ đồng. Đầu năm 2009, công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu cà phê Tây Nguyên cũng đã khởi công xây dựng kho ngoại quan tại khu công nghiệp Hòa Phú với tong nguồn vốn đầu tư 160 tỉ đồng. Những doanh nghiệp khác trên địa bàn tỉnh, như: Công ty cà phê Việt Thắng, Công ty cà phê Tháng 10, Công ty liên doanh chế biến cà phê xuất khẩu Man- Buôn Ma Thuột,… đang tiếp tục đầu tư nguồn vốn trên 70 tỉ đồng để xây dựng hệ thống sân phơi, nhà xưởng, dây chuyền chế biến ( ướt, khô), sàng phân loại, hệ thống bắn màu, máy sấy,… theo công nghệ hiện đại để chế biến cà phê nhân xuất khẩu.

  • Điều kiện tự nhiên của tỉnh

Như đã phân tích ở phần trên, điều kiện t ự nhiên với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, lượng mưa khá cao và ổn định vào mùa mưa, cùng diện tích đất đỏ Bazan lớn trên hai cao nguyên Buôn Ma Thuột và M’Đrăk bằng phẳng đã tạo ra một lợi thế so sánh rất lớn về năng suất, chất lượng và hương vị đặc biệt cho sản phẩm của cà phê nhân Vối của tỉnh Đăk Lăk. Yếu tố này tạo ra khả năng cạnh tranh lớn của sản phẩm trên thị trường Đức và thế giới.

3.2. Thực trạng sản xuất kinh doanh cà phê nhân của các doanh nghiệp tỉnh Đăk Lăk

3.2.1. Kết quả sản xuất kinh doanh cà phê nhân của các doanh nghiệp tỉnh Đăk Lăk

3.2.1.1. Kết quả sản xuất


  • Về sản lượng

Năm 2006 là năm có năng suất và sản lượng cao nhất trong 5 năm do điều kiện thời thiết khá thuận lợi. Năm 2007 giảm sút mạnh nhất, năng suất chỉ đạt gần 1,9 tấn/ ha và sản lượng chỉ còn 325.344 tấn, giảm 25,2% so với năm 2007, nguyên nhân do mưa nhiều vào thời kì hoa đang thụ phấn, thêm vào đó, hiện tượng rụng quả non trươc khi thu hoạch xảy ra trên toàn tỉnh và dịch ấu trùng ve sầu đất hoành hành. Năm 2008, sản lượng tăng mạnh trở lại, tăng 27,7% so với năm 2007. Trong năm 2009, diễn biến thời tiết bất lợi nên tình hình sản xuất cà phê tương tự như năm 2007 nên sản lượng có xu hướng giảm nhẹ so với năm 2008. Cụ thể như sau:
Bảng 6: Diện tích, năng suất và sản lượng cà phê của Đăk Lăk

giai đoạn 2005- 2009

Năm

Diện tích

(ha)

Năng suất

( tấn/ ha)

Sản lượng (tấn)

2005

170.403

1,990

330.600

2006

174.740

2,557

435.000

2007

178.903

1,889

325.344

2008

182.434

2,378

415.494

2009

(ước tính)



184.500

2,300

400.000

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đăk Lăk 2008)
Đặc biệt, cuối năm 2008, tỉnh Đăk Lăk đã có được những kết quả khả quan về cà phê bền vững có chứng nhận / kiểm tra. Cụ thể :

  • Chứng nhận Utz ( Utz Certified): có 7 công ty được với tổng diện tích 6.169 ha, sản lượng 15.500 tấn được công nhận

  • Liên minh rừng mưa ( Rainforest Alliance): có 500 ha với sản lượng 1.600 tấn được công nhận.

  • 4C ( Common Code for Coffee Community): có 7 công ty với diện tích 7.000 ha và sản lượng 23.000 tấn được chứng nhận.

  • Về chất lượng

Trong những năm gần đây, chất lượng nhân cà phê vẫn luôn là vấn đề được nhắc đến nhiều trong các cuộc hội thảo, hội nghị tổng kết các niên vụ cà phê của tỉnh Đăk Lăk.

Chất lượng cà phê nhân được xem xét với hai chỉ tiêu chính là kích thước hạt (tính bằng % khối lượng hạt trên các loại sàng phân loại) và tổng số điểm lỗi trong mẫu 300g cà phê nhân.

Trong niên vụ 2007- 2008, trung bình có 40% hạt trên sàng số 16, số lỗi trong mẫu cà phê của tỉnh là 159,2 lỗi. Với số lỗi này nếu không qua tái chế thì nhân cà phê không đạt tiêu chuẩn hạng 1 ( R1) và hạng 2 (R2) theo TCVN 4193:2005.

Sang niên vụ 2008- 2009, chất lượng cà phê bị giảm trầm trọng. số lỗi hạt đen, hạt mốc, hạt nâu tăng mạnh. Trung bình tổng số lỗi trong mẫu 300g nhân của tỉnh là 375, cao gấp 2,35 lần so với niên vụ 2007- 2008.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhân kém chất lượng là do cùng với sự biến đổi bất thường của thời tiết thì việc thu hoạch, phơi sấy, bảo quản sau thu hoạch chưa tốt, thiếu khoa học.Trong giai đoạn thu hoạch tỉ lệ quả xanh non con nhiều nên cho ra những nhân nâu hoặc đen, kích thước hạt nhỏ. Bên cạnh đó, năng lực chế biến của các công ty trên địa bàn tỉnh chỉ đáp ứng được 60% sản lượng hàng năm, còn lại 40% do người dân tư chế biến. Như vậy, mỗi năm sẽ có hơn 170.000 tấn cà phê nhân do người dân tự chế biến, thừơng là chế biến bằng phương pháp phơi quả khô hoặc xát dập rồi phơi trên nền xi- măng, bạt và trên sân đất. Sau đó người dân tự bảo quản cà phê nhân tại nhà trong những điều kiện độ ẩm không thích hợp. Vì vậy chất lượng nhân kém.

Hàng năm, bên cạnh mua và chế biến cà phê nhân sản xuất trong tỉnh, các doanh nghiệp còn mua khỏang 40.000 tấn đến 50.000 tấn cà phê nhân thành phẩm từ các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Gia Lai,…để xuất khẩu.


1   ...   8   9   10   11   12   13   14   15   ...   20


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương