Đề tài phân tích thực trạng kinh doanh xuất khẩu cà phê nhân của các doanh nghiệP



tải về 0.76 Mb.
trang11/20
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích0.76 Mb.
1   ...   7   8   9   10   11   12   13   14   ...   20

3.1.1.3.2. Lợi thế trong xuất khẩu


  • Lợi thế có từ chiến lược của Nhà nước

Trong giai đoạn 2003- 2010, Nhà nước xây dựng và hoàn thiện chiến lược mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam, trong đó cà phê là một trong 3 mặt hàng hàng đầu.

  • Lợi thế về chi phí sản xuất cà phê xuất khẩu

Theo Hiệp hội Cà phê- Ca cao Việt Nam, chi phí sản xuất cà phê xuất khẩu của Đăk Lăk nói riêng, của Việt Nam nói chung rẻ hơn các nước. Năm 2006, chi phí bình quân của nước ta là 750- 800 USD/ 1tấn cà phê nhân, trong khi của Ấn Độ là 926.9 USD/ 1tấn cà phê vối nhân. Từ lợi thế về chi phí này sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh cho cà phê của tỉnh cũng như của cả nước.

  • Có sự quy hoạch các vùng chuyên canh cà phê

Các ban ngành của tỉnh đã có quy hoạch những vùng chuyên canh cà phê chất lượng để phục vụ xuất khẩu tại các huyện Cư M’gar, Ea H’leo, Cư Kuin, Krông Ana, Krông Buk, Krông Păk, Krông Năng thành phố Buôn Ma Thuột,…Vùng chuyên canh cà-phê chiếm 86% diện tích sản xuất nông nghiệp và 89% sản lượng cà-phê trong toàn tỉnh.

Bên cạnh những lợi thế trên, cà phê tỉnh Đăk Lăk còn có một lợị thế quan trọng khác, đó là vào tháng 10 năm 2005,Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ khoa học công nghệ Việt Nam cấp đăng bạ tên gọi Xuất xứ cà phê Buôn Ma Thuột ( nay là Chỉ dẫn Đại lí (CDĐL) cà phê Buôn Ma Thuột) cho sản phẩm cà phê nhân Robusta ( Vối) của tỉnh.


3.1.2. Vị trí của ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân tỉnh Đăk Lăk


Cà phê không phải là cây nguyên sản của Đăk Lăk nhưng đã được trồng ở Đăk Lăk từ rất lâu và chiếm vị trí độc tôn mà không cây trồng nào so sánh được. Cây cà-phê đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn Đăk Lăk, giúp hàng vạn gia đình cải thiện đời sống và giàu lên.

Cà phê nhân là sản phẩm nông nghiệp chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội và kim ngạch xuất khẩu hàng năm của tỉnh. Xuất khẩu mặt hàng cà phê chiếm 35% GDP và trên 82% tổng kim ngạch xuất khẩu của Đăk Lăk. Theo sở Công thương Đăk Lăk, kim ngcạh xuất khẩu của tỉnh trong các năm 2005, 2006, 2007 và 2008 lần lượt là 303 triệu USD, 398 triệu USD, 599 triệu USD, 720 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt tương ứng là 248,8 triệu USD; 338,7 triệu USD; 537,56 triệu USD và 653,03 triệu USD.


3.1.2. Vai trò xuất khẩu cà phê nhân đối với nền kinh tế quốc dân tỉnh Đăk Lăk

3.1.2.1. Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu máy móc, khoa học- công nghệ, vật tư phục vụ quá trình công nghiệp hóa- Hiện đại hóa tỉnh.


Xuất khẩu cà phê góp phần lớn vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, nguồn ngoại tệ thu được này sẽ được dùng để nhập khẩu phân bón, nông dược, máy móc,.. phục vụ cho sản xuất trong tỉnh.

Theo thống kê của Sở Công thương Đăk Lăk năm 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt 720 triệu USD, trong đó xuất khẩu cà phê đạt 653,03 triệu USD. Từ nguồn thu này, tỉnh dùng 30,159 triệu USD để nhập khẩu, trong đó: nhập vật tư ( phân bón, nông dược…), nguyên liệu cho sản xuất với kim ngạch 3,779 triệu USD và máy móc thiết bị với kim ngạch 26,38 triệu USD.


3.1.2.2. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất và các ngành kinh tế khác của tỉnh phát triển.


Xuất khẩu cà phê phát triển mạnh kéo theo ngành công nghiệp cơ khí chế tạo máy móc, nông cụ và các dịch vụ cung cấp giống cây trồng, phân bón,..tăng nhanh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Trong cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế, tỷ trọng của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm, công nghiệp- xây dựng và dịch vụ tăng, ví dụ cụ thể trong hai năm 2005 và 2006 như sau:

Bảng 5:Bảng cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế của tỉnh Đăk Lăk




2005

2006

2007

Nông nghiệp

57,2%

53,9%

61,9%

Công nghiệp- xây dựng

17,2%

18,7%

14,9%

Dịch vụ

25,6%

27,4%

23,2%

( Nguồn: sách Tư liệu kinh tế 63 tỉnh thành Việt Nam)

3.1.2.3. Tích cực trong việc giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận lớn nông dân và cải thiện rõ rệt đời sống của nhân dân trong tỉnh.


Theo Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đăk Lăk, năm 2006, ngành cà phê Đắk Lắk đã góp phần giải quyết việc làm cho 200 nghìn lao động tham gia trực tiếp và khoảng 500 nghìn nhân khẩu khác liên quan sản xuất cà-phê. Đặc biệt vào vụ thu hoạch hàng năm ( thường bất đầu từ tháng 11), tỉnh còn thu hút hàng ngàn lao động thời vụ từ các tỉnh lân cận, như Phú Yên, Bình Định, Khánh Hòa,…

3.1.2.4. Mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của tỉnh nói riêng, của nước ta nói chung với các nước trên thế giới.


Hiện tại, cà phê nhân của tỉnh đã xuất khẩu sang 56 quốc gia trên thế giới, điều này cũng có nghĩa là tỉnh đã thiết lập được mối quan hệ buôn bán- thương mại với những quốc gia đó.

3.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến kinh doanh xuất khẩu cà phê nhân của các doanh nghiệp tỉnh Đăk Lăk

3.1.4.1. Nhân tố bên ngoài


  • Nhân tố chính trị, pháp luật

Tình hình chính trị chung của Việt Nam ổn định, được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là nơi đầu tư và kinh doanh an toàn.

Tình chính trị của Đức tương đồi ổn định, ít biến động thêm vào đó Việt Nam và Đức có mối quan hệ về chính trị tốt đẹp. Chính vì vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân vào Đức, cũng như các doanh nghiệp đối tác của ta tại Đức sẽ yên tâm tiền hành các hoạt động thươmg mại hai chiều.

Trong xuất khẩu cà phê, doanh nghiệp chịu nhiều tác động của luật về thuế, giá cả. Đáng chú ý là tại Đức áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt với cà phê và các sản phẩm cà phê nhập khẩu ( theo mức thuế chung của EU). Điều này sẽ tác động trực tiếp tới giá cà phê Việt Nam xuất khẩu qua thị trường này.


  • Nhân tố văn hóa, xã hội

Tập quán mua bán và văn hóa kinh doanh của thương nhân Đức: Tại Đức, cà phê được phân phối bởi tập đoàn lớn, như: Neumann Gruppe, Kraft, Tchibo,… Trong kinh doanh thì các thương nhân Đức không thích mặc cả, họ muốn có giá tốt ngay từ đầu, đồng thời luôn làm việc nguyên tắc và cụ thể. Các tập đoàn này thường tiến hành hoạt động kinh doanh ngay tại cảng Hamburg (Đức).

Thị hiếu, thói quen, hành vi và xu hướng tiêu dùng: Đối với người dân Đức, cà phê là thức uống phổ biến hàng ngày. Ở đây cũng hình thành văn hóa uống cà phê giống như nhiều quốc gia khác trong EU. Trong thời kì suy thoái kinh kinh tế hiện nay, nhu cầu về cà phê cũng không giảm nhiều, họ có xu hướng uống tại nhà thay vì uống ở ngoài. Đồng thời, Đức là thị trường tiêu thụ thực phẩm hữu cơ lớn, tiêu thụ cà phê hữu cơ chiếm tỷ lệ khá ổn định, khoảng 2%- 3% tổng lượng tiêu cà phê.

  • Nhân tố kinh tế

Cơ cấu kinh tế của Đức: Đức là có nền kinh tế phát triển mạnh. Cơ cấu kinh tế của Đức nghiêng hẳn về dịch vụ, cụ thể: Công nghiệp chiếm 29,1%, nông nghiệp 0,9% và dịch vụ 70%10. Nhìn vào cơ cấu ta nhận thấy Đức là một thị trường lớn.

Thu nhập và mức sống của người dân: GDP của Đức đạt 2,89 nghìn tỷ USD (2006), GDP theo đầu người: 31.400 USD (2006) 11, thu nhập cao nên mức sống của người dân cao, kèm theo đó sẽ yêu cầu về chất lượng của sản phẩm ngày càng cao. Chính vì vậy, các nhà xuất khẩu phải cung cấp cà phê nhân sạch, đảm bảo an toàn sức khỏe.



  • Nhân tố cạnh tranh trên thị trường

Trước tiên các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của tỉnh Đăk Lăk gặp phải sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu khác từ các tỉnh sản xuất và kinh doanh xuất khẩu cà phê từ các tỉnh khác trong Việt Nam, như : Lâm Đồng, Gia Lai, Đăk Nông, Bình Phước, Sơn La.

Tại thị trường Đức: Mặc dù không trồng được cà phê nhưng Đức là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nên thị trường kinh doanh mặt hàng này diễn ra sôi động. Có tới hơn 55 quốc gia xuất khẩu cà phê vào thị trường này. Chính vì vậy các doanh nghiệp tham gia thị trường gặp sự cạnh tranh quyết liệt cả về chất lượng ngày và giá cả với các nhà xuất khẩu cà phê của các nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới, như Brazil, Honduras, Colombia, Indonesia, Ấn Độ, Ethiopia, Guatemala,…


1   ...   7   8   9   10   11   12   13   14   ...   20


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương